Tỷ giá sáng 17/5: Tỷ giá trung tâm đi ngang

09:45 | 17/05/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (17/5), trong khi tỷ giá trung tâm đi ngang sau phiên giảm nhẹ trước đó thì giá mua - bán bạc xanh tại các ngân hàng không nhiều biến động so với cuối phiên trước.

ty gia sang 175 ty gia trung tam di ngang Tỷ giá sáng 16/5: Tỷ giá trung tâm quay đầu giảm nhẹ
ty gia sang 175 ty gia trung tam di ngang Tỷ giá sáng 13/5: Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng
ty gia sang 175 ty gia trung tam di ngang

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 23.160 đồng, không đổi so với phiên trước.

ty gia sang 175 ty gia trung tam di ngang

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN trong sáng nay tiếp tục giữ nguyên ở 22.550 VND/USD đối với giá mua vào và 23.250 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại các ngân hàng không nhiều biến động so với cuối phiên trước.

ty gia sang 175 ty gia trung tam di ngang

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 22.920 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.000 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.190 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.350 VND/USD.

ty gia sang 175 ty gia trung tam di ngang

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 104,126 điểm, giảm 0,062 điểm (-0,06%) so với thời điểm mở cửa.

Sáng nay, bạc xanh giảm nhẹ và đang cố gắng duy trì quanh mức giá hiện tại khi các nhà đầu tư cắt giảm đặt cược vào việc nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục tăng lãi suất sẽ thúc đẩy bạc xanh tăng thêm.

Bạc xanh đã tăng lên mức cao nhất trong hai thập kỷ và sau đó giảm nhẹ, trong khi lợi suất trái phiếu của Mỹ cũng đã giảm khi các nhà đầu tư cho rằng các đợt tăng lãi suất mạnh trong thời gian ngắn sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế dài hạn của Mỹ.

Đồng nhân dân tệ của Trung Quốc sáng nay ổn định hơn ở mức 6,7953 CNY/USD và dường như đang tìm được đáy sau khi đã giảm hơn 6% trong vòng một tháng.

Hy vọng chấm dứt việc phong tỏa do COVID-19 tại Thượng Hải đã bù đắp phần nào cho dữ liệu kinh tế tháng Tư yếu kém của Trung Quốc, và các nhà đầu tư cũng được khuyến khích bởi các dấu hiệu chính quyền nước này sẽ ban hành nhiều chính sách hỗ trợ hơn nữa.

Trung Quốc đã cắt giảm lãi suất thế chấp đối với những người mua nhà lần đầu vào cuối tuần qua. Các nguồn tin nói với Reuters rằng các nhà chức trách cũng đã yêu cầu một số nhà phát triển bất động sản có tình hình tài chính tốt bán ra trái phiếu để giúp thúc đẩy tâm lý thị trường.

“Việc ngưng trượt giá của nhân dân tệ làm dịu đi sự biến động của thị trường nói chung, trong khi bạc xanh cũng đã tạm dừng đà tăng", Chris Weston, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu của công ty môi giới Pepperstone nói và thêm rằng: “Rất nhiều thứ đã được định giá lại khi chúng ta không nhận được bất kỳ tin tức mới nào từ các quan chức Fed".

Euro sáng nay tăng 0,7% lên 1,0441 USD; trong khi bảng Anh cũng tăng 0,12% sau khi tăng khoảng 1,5% từ mức thấp hai năm và hiện ổn định ở 1,2334 USD.

Yên Nhật sáng nay giảm nhẹ xuống 129,25 JPY/USD và vẫn đang duy trì trên mức đáy hai thập kỷ.

Ở thông tin khác, khoảng cách giữa lợi suất kỳ hạn 10 năm của Đức và Mỹ đã thu hẹp hơn 30 điểm cơ bản trong tháng này và các ngân hàng trung ương ở Anh và Úc đã tăng lãi suất.

Biên bản cuộc họp tháng Năm của Ngân hàng Trung ương Úc sẽ được công bố vào cuối ngày; trong khi đó một số quan chức Fed cũng sẽ có các bài phát biểu đề cập quan điểm chính sách của họ, bao gồm cả Chủ tịch Jerome Powell.

Sáng nay, đô la Úc tăng 0,36% lên 0,6996 USD; đô la New Zealand tăng 0,3% lên 0,6326 USD, vẫn gần mức thấp trong nhiều năm.

ty gia sang 175 ty gia trung tam di ngang

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850