Tỷ giá sáng 31/5: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm mạnh

10:11 | 31/05/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (31/5), trong khi tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm mạnh thì giá mua - bán bạc xanh tại nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước nhưng đã giảm nhẹ so với sáng hôm qua.

ty gia sang 315 ty gia trung tam tiep tuc giam manh Tỷ giá sáng 30/5: Tỷ giá trung tâm giảm mạnh
ty gia sang 315 ty gia trung tam tiep tuc giam manh Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 23-27/5

ty gia sang 315 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.057 đồng, giảm 32 đồng. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã có phiên giảm thứ hai phiên liên tiếp với tổng mức giảm là 52 đồng.

ty gia sang 315 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN trong sáng nay tiếp tục giữ nguyên ở 22.550 VND/USD đối với giá mua vào và 23.250 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước nhưng đã giảm nhẹ so với sáng hôm qua.

ty gia sang 315 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.020 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.090 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.280 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.553 VND/USD.

ty gia sang 315 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 101,586 điểm, tăng 0,220 điểm (+0,22%) so với thời điểm mở cửa.

Trong khi bạc xanh nhích nhẹ vào sáng nay thì euro đã ngắt chuỗi tăng nhưng vẫn hướng đến tháng tốt nhất kể từ đầu năm, khi các thị trường xem xét lại kịch bản tăng lãi suất ở châu Âu và so sánh với tốc độ tăng lãi suất của Mỹ được dự đoán có thể sẽ chậm lại.

Euro sáng nay giảm 0,3% xuống 1,0747 USD, sau khi chạm mức cao nhất trong 5 tuần ở 1,0786 USD trước đó, khi lạm phát của Đức tăng lên mức cao nhất trong gần nửa thế kỷ vào tháng Năm do giá năng lượng và thực phẩm tăng vọt - diễn biến củng cố khả năng tăng lãi suất quyết liệt hơn từ Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB). Ngân hàng này được dự đoán ​​sẽ bắt đầu tăng lãi suất vào tháng Bảy, lần đầu tiên kể từ khi đại dịch xảy ra.

Dữ liệu chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của khu vực đồng tiền chung châu Âu sẽ được công bố vào cuối ngày. Các nhà phân tích của CBA cho biết dữ liệu lạm phát của Đức cho thấy khả năng CPI của châu Âu cũng sẽ vượt quá kỳ vọng.

“Một số quan chức ECB sẽ có bài phát biểu vào tối nay, và không nghi ngờ gì khi họ sẽ nói về triển vọng lãi suất cao hơn của châu Âu”, các chuyên gia nhận định.

Đồng tiền chung đang hướng đến mức tăng 2,2% trong tháng Năm và đây sẽ là mức tăng hàng tháng lớn nhất kể từ đầu năm.

“Tâm điểm chú ý của thị trường đã chuyển từ lạm phát cao hơn và tăng lãi suất nhiều hơn sang lo lắng về việc liệu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách có gây áp lực đến nền kinh tế hay không, và điều đó đã khiến bạc xanh suy yếu trong vài tuần qua”, Redmond Wong, chiến lược gia thị trường tại Saxo Markets Hong lưu ý, đồng thời thêm rằng không có gì chắc chắn rằng Fed sẽ không tiếp tục thắt chặt chính sách mạnh mẽ.

Bởi, thị trường cũng ghi nhận quan điểm diều hâu hơn từ Thống đốc Fed Christopher Waller khi ông đưa ra lưu ý rằng: "xu hướng đồng đô la yếu hơn có thể đảo ngược".

Một vài nhà đầu tư cho biết, sự phục hồi của tâm lý mạo hiểm đối với một số tài sản tài chính và tiền tệ rủi ro hơn một phần là do việc nới lỏng các biện pháp phong tỏa tại trung tâm tài chính Thượng Hải của Trung Quốc, qua đó đã đè nặng lên bạc xanh.

Ở một thông tin liên quan khác, báo chí đưa tin rằng các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu hôm thứ Hai đã đồng ý về nguyên tắc để cắt giảm hầu hết nhập khẩu dầu từ Nga cho đến cuối năm nay, khiến giá dầu tăng cao hơn và thúc đẩy các đồng tiền liên quan đến xuất khẩu hàng hóa.

Đô la Canada sáng nay giảm nhẹ xuống 1,2665 CAD/USD nhưng vẫn gần mức cao nhất trong một tháng

Đô la Úc giảm 0,21% xuống 0,7181 USD, vẫn được hỗ trợ bởi dữ liệu PMI tốt hơn mong đợi từ Trung Quốc.

Trong khi đó, đô la New Zealand sáng nay giảm 0,39% xuống 0,6529 USD; bảng Anh giảm 0,26% và giao dịch ở 1,2619 USD nhưng vẫn hướng đến mức tăng 0,5% hàng tháng so với bạc xanh, lần đầu tiên kể từ đầu năm 2022.

Đồng yên Nhật sáng nay giao dịch ở 128,11 JPY/USD, giảm 0,41%, nhưng đang tiến đến tháng tăng mạnh nhất kể từ tháng 7 năm ngoái.

ty gia sang 315 ty gia trung tam tiep tuc giam manh

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.350
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.850