Tỷ giá sáng 4/7: Tỷ giá trung tâm tăng phiên thứ tư liên tiếp

09:17 | 04/07/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (4/7), trong khi tỷ giá trung tâm có phiên tăng thứ tư liên tiếp thì giá mua - bán bạc xanh tại một số ngân hàng cũng tiếp tục được điều chỉnh tăng so với cuối phiên trước.

ty gia sang 47 ty gia trung tam tang phien thu tu lien tiep Tỷ giá sáng 1/7: Tỷ giá trung tâm tăng phiên thứ ba liên tiếp
ty gia sang 47 ty gia trung tam tang phien thu tu lien tiep Tỷ giá sáng 30/6: Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng

ty gia sang 47 ty gia trung tam tang phien thu tu lien tiep

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.121 đồng, tăng 9 đồng so với phiên giao dịch trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã tăng phiên thứ tư liên tiếp với tổng mức tăng là 29 đồng.

ty gia sang 47 ty gia trung tam tang phien thu tu lien tiep

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN trong sáng nay tiếp tục giữ nguyên ở 22.550 VND/USD đối với giá mua vào và 23.250 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại một số ngân hàng tiếp tục được điều chỉnh tăng so với cuối phiên trước.

ty gia sang 47 ty gia trung tam tang phien thu tu lien tiep

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.130 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.220 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.440 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.562 VND/USD.

ty gia sang 47 ty gia trung tam tang phien thu tu lien tiep

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt, cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 105,505 điểm, giảm 0,070 điểm (-0,07%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh giảm nhẹ những vẫn ở gần mức cao nhất trong nhiều năm so với các đồng tiền chủ chốt khác, trong khi euro chịu áp lực khi các nhà đầu tư tìm kiếm kênh trú ẩn an toàn do lo ngại tăng trưởng toàn cầu chậm lại.

Dữ liệu công bố vào thứ Sáu tuần trước cho thấy lạm phát Khu vực đồng euro tăng lên mức kỷ lục, điều này có thể thúc đẩy Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tăng lãi suất ngay tại cuộc họp chính sách trong tháng này.

Sáng nay, euro tăng 0,18% lên 1,0432 USD nhưng vẫn gần mức đáy 5 năm, cho thấy sự ưa chuộng của thị trường đối với bạc xanh khi triển vọng kinh tế ảm đạm.

Đô la Úc và New Zealand tiếp tục giảm nhẹ sau khi chạm mức thấp nhất trong hai năm vào thứ Sáu, hiện đang lần lượt giao dịch ở 0,6809 USD và 0,6205 USD.

Các đồng tiền trú ẩn an toàn có xu hướng tăng, đặc biệt là khi chi phí thương mại tăng và nền kinh tế thế giới suy yếu. Điều này đã giữ cho bạc xanh tăng giá ngay cả khi lo ngại tăng trưởng đã làm giảm kỳ vọng tăng lãi suất của Mỹ.

Công cụ dự báo tăng trưởng kinh tế GDP Now, được theo dõi sát sao bởi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Atlanta, đã giảm xuống mức -2,1% so với cùng kỳ trong quý II, cho thấy khả năng Mỹ đã rơi vào suy thoái kỹ thuật.

"Đô la Úc và các loại tiền tệ hàng hóa khác, thậm chí cả euro và bảng Anh có khả năng sẽ giảm nhiều hơn nữa trong tuần này, do các thị trường hiện đang hướng sự chú ý vào nguy cơ nền kinh tế toàn cầu giảm tốc mạnh", Carol Kong, chiến lược gia tiền tệ tại CBA nhận định.

Bảng Anh sáng nay nhích nhẹ lên 1,2098 USD, sau khi chạm mức thấp nhất trong hai tuần hôm thứ Sáu tuần trước.

Ngân hàng Trung ương Úc sẽ họp vào thứ Ba và các nhà đầu tư cũng đang chờ biên bản cuộc họp tháng Sáu của Fed sẽ được công bố vào thứ Tư, cùng với đó là dữ liệu việc làm của Mỹ công bố vào thứ Sáu.

Các thị trường dự đoán lãi suất của Úc sẽ tăng 40 điểm cơ bản, điều này có thể sẽ không hỗ trợ nhiều cho đô la Úc.

Biên bản cuộc họp chính sách tháng Sáu của Fed gần như chắc chắn sẽ cho thấy quan điểm diều hâu hơn khi ngân hàng trung ương này chọn tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản.

Thị trường đang dự đoán có khoảng 85% khả năng lãi suất của Mỹ sẽ tăng 75 điểm cơ bản trong tháng này và nâng lãi suất lên mức 3,25 - 3,5% vào cuối năm, trước khi giảm vào năm 2023.

ty gia sang 47 ty gia trung tam tang phien thu tu lien tiep

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.245 23.545 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.280 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.259 23.545 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
67.120
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
67.100
Vàng SJC 5c
66.100
67.120
Vàng nhẫn 9999
52.150
53.050
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.650