Tỷ giá sáng 7/6: Tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm nhẹ

09:51 | 07/06/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, sáng nay (7/6), trong khi tỷ giá trung tâm tiếp tục giảm nhẹ thì giá mua - bán bạc xanh tại một số ngân hàng cũng được điều chỉnh giảm nhẹ so với cuối phiên trước.

ty gia sang 76 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe Tỷ giá sáng 6/6: Tỷ giá trung tâm quay đầu giảm
ty gia sang 76 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 30/5-3/6

ty gia sang 76 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.057 đồng, giảm 5 đồng so với phiên giao dịch trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã có phiên giảm thứ hai liên tiếp với tổng mức giảm là 12 đồng.

ty gia sang 76 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe

Tỷ giá tham khảo tại Sở giao dịch NHNN trong sáng nay tiếp tục giữ nguyên ở 22.550 VND/USD đối với giá mua vào và 23.250 VND/USD với giá bán ra.

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh tại một số ngân hàng được điều chỉnh giảm nhẹ so với cuối phiên trước.

ty gia sang 76 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.015 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.090 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.280 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.557 VND/USD.

ty gia sang 76 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF), cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 102,649 điểm, tăng 0,237 điểm (+0,23%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh tiếp tục gia tăng sức mạnh và chạm mức cao nhất trong hai thập kỷ so với yên Nhật do lo ngại lạm phát có thể dai dẳng hơn đã đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ tăng.

Ngoài ra, bạc xanh cũng tăng cao hơn so với euro, bảng Anh và franc Thụy Sĩ. Nó cũng tăng so với đô la Úc khi thị trường chưa xác định được liệu ngân hàng trung ương Úc sẽ tăng lãi suất vào cuối ngày thêm 25 điểm cơ bản hay lớn hơn.

Sáng nay, đô la Úc giảm 0,35% xuống 0,7168 USD, tiếp tục rời xa mức đỉnh sáu tuần đạt được vào thứ Sáu tuần trước.

Bạc xanh tăng mạnh 0,6% lên 132,67 JPY/USD - mức cao nhất kể từ tháng 4/2002 - được thúc đẩy bởi lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm của Mỹ tăng lên 3,05%, mức cao nhất gần bốn tuần.

Ngược lại, lợi suất trái phiếu cùng kỳ hạn của Nhật Bản được ghim gần bằng 0 bởi chính sách kiểm soát đường cong lợi suất của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ). Thống đốc Haruhiko Kuroda hôm thứ Hai đã nhắc lại cam kết tiếp tục kiên định với chính sách kích thích tiền tệ "mạnh mẽ".

Theo các chuyên gia của Commonwealth Bank of Australia (CBA), bên cạnh việc chênh lệch lợi suất, Nhật Bản hiện đang phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng và đây là nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu của yên Nhật, mặc dù họ không kỳ vọng sẽ mất giá quá nhiều từ yếu tố này.

“Chúng tôi cho rằng đồng tiền Nhật Bản sẽ tiếp tục được hưởng lợi từ như cầu đối với các loại tiền trú ẩn an toàn, miễn là tài khoản vãng lai của Nhật Bản vẫn còn thặng dư", chiến lược gia Carol Kong của CBA nói và thêm rằng: “Do đó, chúng tôi cho rằng kịch bản tăng giá của cặp tiền USD/JPY trong tháng Ba và tháng Tư sẽ không lặp lại, thay vào đó chúng tôi kỳ vọng nó sẽ củng cố gần mức đỉnh ở phạm vi 126-131".

Dữ liệu việc làm mạnh mẽ của Mỹ vào cuối tuần trước đã thúc đẩy đặt cược rằng áp lực giá tăng sẽ còn tồn tại lâu hơn, qua đó có khả năng buộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) phải hành động mạnh mẽ.

Số liệu về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vào thứ Sáu sẽ cung cấp thêm manh mối về lộ trình tăng lãi suất của Fed, trước quyết định chính sách vào tuần tới, cuộc họp mà nhiều người dự đoán ngân hàng trung ương này ​​sẽ đưa ra quyết định tăng lãi suất thêm 50 điểm cơ bản.

"Báo cáo lạm phát hôm thứ Sáu có thể sẽ cho thấy giá cả vẫn chưa thể giảm bớt, nhưng khả năng xảy ra suy thoái vẫn còn thấp", Edward Moya, nhà phân tích thị trường cấp cao tại OANDA nhận định và nói thêm: "Thị trường sẽ cần đợi thêm một vài báo cáo lạm phát trước khi bất kỳ ai có thể tự tin đưa phán đoán về thời điểm Fed có thể thay đổi lộ trình thắt chặt của họ".

Sáng nay, euro giảm 0,19% xuống 1,0676 USD, trước thềm cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vào thứ Năm.

Bảng Anh sáng nay giảm 0,26% xuống 1,2500 USD. Trước đó, nó đã tăng 0,29% khi Thủ tướng Anh Boris Johnson thành công vượt qua cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm bất chấp niềm tin bị suy yếu.

Ở nơi khác, đô la New Zealand giảm 0,42% xuống 0,6462 USD.

ty gia sang 76 ty gia trung tam tiep tuc giam nhe

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.260 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.264 23.550 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.300
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.800