Tỷ giá sáng 8/9: Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng

09:33 | 08/09/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 9h sáng nay (8/9), trong khi tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng thì giá mua - bán bạc xanh một số ngân hàng được điều chỉnh tăng so với cuối phiên trước.

ty gia sang 89 ty gia trung tam noi dai chuoi tang Ngân hàng hỗ trợ phòng ngừa rủi ro tỷ giá
ty gia sang 89 ty gia trung tam noi dai chuoi tang Tỷ giá sáng 7/9: Tăng phiên thứ ba liên tiếp

ty gia sang 89 ty gia trung tam noi dai chuoi tang

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.281 đồng, tiếp tục tăng mạnh 20 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm có phiên tăng thứ ba liên tiếp với tổng mức tăng là 62 đồng.

ty gia sang 89 ty gia trung tam noi dai chuoi tang

Sáng nay, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên giá mua - bán USD so với chiều qua.

Trước đó, vào chiều 7/9, Sở đã điều chỉnh giá mua - bán USD. Trong đó, giá bán ra đã tăng từ 23.400 đồng/USD lên 23.700 đồng/USD (tăng 300 đồng/USD); giá mua vào tạm để trống (trước đó niêm yết 22.550 đồng/USD).

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh một số ngân hàng được điều chỉnh tăng so với cuối phiên trước.

ty gia sang 89 ty gia trung tam noi dai chuoi tang

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.430 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.490 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.710 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.950 VND/USD.

ty gia sang 89 ty gia trung tam noi dai chuoi tang

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt, cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 109,799 điểm, tăng 0,269 điểm (+0,25%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh tăng sau khi giảm trở lại từ mức cao nhất trong hai thập kỷ trong phiên trước, khi các nhà đầu tư xem xét đường lối của chính sách tiền tệ toàn cầu trước quyết định về lãi suất của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và nhận xét từ Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell vào cuối ngày.

Sáng nay, bạc xanh tăng 0,44% lên 144,16 JPY/USD, sau khi đạt mức cao nhất trong 24 năm là 144,99 trong phiên trước đó.

Euro sáng nay giảm 0,21% xuống 0,9985 USD, sau khi chạm mức thấp nhất trong 20 năm là 0,9864 USD vào đầu tuần.

ECB được cho là sẽ tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản tại cuộc họp vào cuối ngày hôm nay để chống lạm phát tăng, mặc dù cuộc khủng hoảng năng lượng ở châu Âu đã khiến euro chịu áp lực.

Trong khi đó, bảng Anh suy yếu 0,23% xuống 1,1506 USD, gần mức thấp nhất trong 37 năm.

Ông Powell sẽ tham gia thảo luận tại một hội nghị của Viện Cato, trong khi các quan chức khác của Fed sẽ không có những phát biểu nào khác cho đến cuộc họp của Fed vào ngày 20 - 21/9.

Trước đó, hầu hết các quan chức của Fed đều cho thấy quan điểm diều hâu, với Chủ tịch Fed Boston, Susan Collins, nói rằng việc đưa lạm phát trở lại mức 2% là "việc ưu tiên hàng đầu" của Fed, trong khi Phó Chủ tịch Fed Lael Brainard nói rằng rằng chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ tiếp tục "trong thời gian dài, vì nó cần thiết để giảm lạm phát".

Thị trường tiền tệ đang dự đoán xác suất 79% rằng Fed sẽ tăng thêm 75 điểm cơ bản tại cuộc họp tháng này, điều này sẽ làm tăng lãi suất huy động từ 3,0% lên 3,25%.

"Sự thống trị của bạc xanh có thể tiếp tục được duuy trì với một đợt tăng mạnh cuối cùng trước khi thị trường bắt đầu tăng cược dài hạn với một số đồng tiền của châu Âu", chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại OANDA, Edward Moya nói và thêm rằng: "Tuy nhiên, hiện châu Âu đang phải đối mặt với nguy cơ về một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu, chênh lệch lãi suất ngày càng gia tăng và lo ngại về một cuộc suy thoái nghiêm trọng...".

"Quyết định lãi suất sắp tới của ECB sẽ tạo xu hướng mới hoặc phá vỡ tình trạng hiện tại của đồng tiền chung châu Âu. Nó có thể sẽ kích hoạt một đợt phục hồi lên trên mức ngang giá hoặc sẽ đi xuống 0,9750", ông nhận định.

Ở nơi khác, đô la Úc và New Zealand sáng nay tiếp tục giảm mạnh và giao dịch lần lượt ở 0,6736 USD, giảm 0,49% và 0,6046, giảm 0,43%.

ty gia sang 89 ty gia trung tam noi dai chuoi tang

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450