Tỷ giá sáng 9/9: Tỷ giá trung tâm quay đầu giảm

09:09 | 09/09/2022

Theo khảo sát của thoibaonganhang.vn, tính đến 8h30 sáng nay (9/9), trong khi tỷ giá trung tâm quay đầu giảm sau ba phiên tăng liên tiếp thì giá mua - bán bạc xanh tại nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước nhưng đã giảm mạnh so với cùng thời điểm hôm qua.

ty gia sang 99 ty gia trung tam quay dau giam Điểm lại thông tin kinh tế ngày 8/9
ty gia sang 99 ty gia trung tam quay dau giam Tỷ giá sáng 8/9: Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng

ty gia sang 99 ty gia trung tam quay dau giam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) sáng nay niêm yết tỷ giá trung tâm ở 23.263 đồng, giảm mạnh 18 đồng so với phiên trước. Như vậy, tỷ giá trung tâm đã quay đầu giảm sau khi tăng ba phiên liên tiếp với tổng mức tăng 62 đồng.

ty gia sang 99 ty gia trung tam quay dau giam

Sáng nay, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên giá mua - bán USD so với hôm qua. Hiện, giá bán ra đang ở 23.700 đồng/USD (cố định từ chiều 7/9); giá mua vào vẫn tạm để trống (trước đó, sáng 7/9 niêm yết ở 22.550 đồng/USD).

Sáng nay, giá mua - bán bạc xanh nhiều ngân hàng không đổi so với cuối phiên trước nhưng đã giảm mạnh so với cùng thời điểm hôm qua.

ty gia sang 99 ty gia trung tam quay dau giam

Cụ thể, tính đến 9h sáng nay, giá mua thấp nhất đang ở mức 23.360 VND/USD, giá mua cao nhất đang ở mức 23.440 VND/USD. Trong khi đó ở chiều bán ra, giá bán thấp nhất đang ở 23.650 VND/USD, giá bán cao nhất đang ở 23.900 VND/USD.

ty gia sang 99 ty gia trung tam quay dau giam

Chỉ số đô la Mỹ (DXY), đo lường biến động của bạc xanh so với 6 đồng tiền chủ chốt, cập nhật đến đầu giờ sáng nay theo giờ Việt Nam ở mức 109,147 điểm, giảm 0,516 điểm (-0,47%) so với thời điểm mở cửa.

Bạc xanh suy yếu sau một đợt tăng mạnh trước đó, khi các thị trường đính giá lại quan điểm vẫn mang tính diều hâu của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong khi euro giữ được mức ngang giá so với đô la Mỹ, được hỗ trợ bởi một đợt tăng lãi suất mạnh mẽ của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vào hôm qua.

Diễn biến trên thị trường tiền tệ được cho là khá ổn định ngay cả khi Chủ tịch Fed Jerome Powell tái khẳng định lập trường của ngân hàng trung ương này về việc tích cực chống lại lạm phát, qua đó củng cố sự "thống trị" của bạc xanh.

Sáng nay, euro đã tăng 0,55% lên 1,0052 USD, thoát khỏi mức đáy hai thập kỷ chạm vào đầu tuần khi các nhà đầu cơ bán ra chốt lời.

ECB hôm thứ Năm đã tăng lãi suất cơ bản thêm 75 điểm cơ bản và hứa hẹn sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong cuộc chiến chống lạm phát, ngay cả khi khu vực này có khả năng đang tiến tới một cuộc suy thoái kinh tế và khủng hoảng năng lượng.

Đồng tiền này đang tiến đến mức tăng gần 1% trong tuần, sau ba tuần giảm liên tiếp, nhưng vẫn giảm hơn 10% so với đầu năm nay.

Trong khi đó, bảng Anh tăng 0,41% lên 1,1551 USD, đảo chiều so với phiên trước.

Bảng Anh trước đó đã giảm sau khi có thông tin về việc Nữ hoàng Elizabeth - vị quốc vương trị vì lâu nhất của Anh - đã qua đời vào thứ Năm ở tuổi 96.

"Tôi nghĩ rằng thị trường hiện đang bắt đầu tập trung sự chú ý cho tuần tới, với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ sẽ được công bố, và tôi nghĩ ở một mức độ nào đó nó sẽ đạt được như kỳ vọng mà Fed mong đợi", Rodrigo Catril, chiến lược gia tiền tệ tại Ngân hàng Quốc gia Australia nói.

So với yên Nhật, sáng nay bạc xanh đã giảm 0,35% xuống 143,61 JPY/USD. Tuy nhiên, nó vẫn hướng đến mức tăng gần 3% trong tuần - mức tăng hàng tuần lớn nhất kể từ tháng Sáu.

Đồng tiền Nhật Bản đã giảm xuống mức thấp nhất 24 năm trong tuần này, do sự khác biệt chính sách giữa một bên là lập trường cực kỳ ôn hòa của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và một bên là các ngân hàng trung ương khác thế giới, đặc biệt là Fed.

Một quan chức hàng đầu của Nhật Bản hôm thứ Năm cho biết, nước này đã sẵn sàng hành động và sẽ không loại trừ bất kỳ lựa chọn nào để giải quyết "sự biến động quá mức" của đồng yên Nhật.

Các quan chức của Bộ Tài chính Nhật Bản, BoJ và Cơ quan Dịch vụ Tài chính (FSA) đã họp để thảo luận về tình trạng hiện nay của đồng yên.

"Các lập luận từ BoJ rằng một đồng tiền thấp hơn có lợi cho nền kinh tế bắt đầu trở nên yếu thế khi chi phí sinh hoạt vẫn tăng, do giá năng lượng tăng cao hơn bởi đồng yên Nhật yếu hơn nhiều", Catril của NAB lưu ý.

Đô la Úc và New Zealand cũng đã phục hồi sau phiên giảm trước đó, với đô la Úc sáng nay tăng 0,62% lên 0,6793 USD, trong đô la New Zealand tăng 0,5% lên 0,6083 USD. Tuy nhiên, hai đồng tiền này vẫn hướng đến tuần giảm tiếp theo.

ty gia sang 99 ty gia trung tam quay dau giam

P.L

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.750 24.060 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.755 24.035 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.750 24.050 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.830 24.140 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.760 24.020 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.650 24.200 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.755 24.305 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.768 24.060 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.730 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.790 24.070 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.100
66.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.100
66.900
Vàng SJC 5c
66.100
66.920
Vàng nhẫn 9999
52.850
53.850
Vàng nữ trang 9999
52.650
53.450