UOB dự báo tăng trưởng GDP cả năm của Việt Nam ở mức 6,7%

16:12 | 06/07/2021

Ngân hàng UOB cho biết, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 6,61% trong quý II/2021, tăng tốc từ mức được điều chỉnh 4,65% trong quý I/2021. Mặc dù có giảm nhẹ so với kỳ vọng, nhưng mức tăng này đã khẳng định xu hướng đi lên trong hiện tại và tái thiết lập xu hướng đã thấy trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2019.

Mặc dù tăng trưởng kinh tế trong quý II/2021 của Việt Nam có thấp hơn kỳ vọng ở mức 6,61% so với cùng kỳ năm trước, nhưng đã khẳng định xu hướng tăng trưởng trở lại sau các ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 vào năm 2020, và cũng là sự tái lập xu hướng tăng đã diễn ra từ năm 2013 tới 2019.

Với tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2021 đạt 5,64% cùng với mức thấp của nửa cuối năm 2020 (trung bình: 3,6%), UOB giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP cả năm của Việt Nam ở mức 6,7% so với mức dự báo chính thức 6-6,5% của Chính phủ Việt Nam.

uob du bao tang truong gdp ca nam cua viet nam o muc 67

Dự báo này dựa trên tính toán tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 7,7% trong 6 tháng cuối năm 2021, vào khoảng gấp đôi tốc độ tăng trưởng trung bình trong 6 tháng cuối năm 2020 và có thể đạt được nếu các hoạt động kinh tế tiếp tục diễn ra bình thường và không bị gián đoạn một cách đáng kể.

Một số yếu tố đã định hình hỗ trợ cho dự báo tích cực hơn trong nửa cuối năm 2021. Dòng vốn FDI đã bắt kịp nửa đầu năm 2020 trong bối cảnh chuỗi cung ứng tiếp tục dịch chuyển tạo cơ sở cho các hoạt động tăng trưởng trong tương lai.

Lĩnh vực sản xuất tiếp tục thể hiện khả năng phục hồi và hoạt động tốt trong quý II/2021, bất chấp những trở ngại khác nhau từ sự bùng phát trở lại của đại dịch COVID-19 trên khắp các tỉnh thành và các nước lân cận.

Một môi trường lạm phát ổn định sẽ hỗ trợ ngân hàng trung ương linh hoạt hơn trong điều hành chính sách của mình qua đó đảm bảo một môi trường hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Do đó, chúng tôi tiếp tục kỳ vọng NHNN sẽ tiếp tục giữ nguyên các chính sách hiện hữu với lãi suất tái cấp vốn là 4,0% và lãi suất tái chiết khấu là 2,5%.

Đối với đồng Việt Nam (VND), sau khi đưa Việt Nam ra khỏi danh sách thao túng tiền tệ vào tháng 4, Bộ Tài chính Hoa Kỳ sẽ tiếp tục tương tác cấp cao với Việt Nam về các chính sách quản lý ngoại hối. Tiếp theo đó, NHNN Việt Nam cũng đã giảm tần suất can thiệp ngoại hối (để ổn định giá trị VND) từ mỗi ngày sang một lần một tuần kể từ tháng 2.

Với các chính sách can thiệp thị trường từ Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ trong thời gián tới, các diễn biến cho thấy áp lực mất giá lên VND sẽ không đáng kể đi cùng sự giám sát của các cơ quan chức năng Hoa Kỳ. Cập nhật của chúng tôi dự báo tỷ giá USD/VND có thể đứng ở mức 23.000 trong quý III/2021 và quý IV/2021, tiếp theo là 23.100 trong quý I/2022 và 23.200 trong quý II/2022.

Tuy nhiên, những rủi ro chính đối với triển vọng sẽ là những thách thức từ đợt bùng phát COVID-19 thứ tư hiện tại bắt đầu vào cuối tháng 4. Sự gia tăng nhanh chóng của các trường hợp nhiễm bệnh trong nước cộng thêm tốc độ tiêm chủng vắc xin trong cộng đồng chậm vốn được xem là một trong số ít các công cụ sẵn có để chống lại virus COVID-19.

Tính đến ngày 29/6, dữ liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy tổng cộng các trường hợp đã và đang nhiễm COVID-19 của Việt Nam là 16.136, tương đối thấp so với 254.515 ở Thái Lan và 739.266 ở Malaysia. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các ca nhiễm đã tăng lên nhanh chóng kể từ cuối tháng 4 khi mà tổng số ca nhiễm chỉ ở mức 2.914 cho thấy sự lây lan dữ dội của dịch bệnh trong đợt bùng phát thứ tư hiện tại.

Chính phủ Việt Nam đã đặt mục tiêu nhận được 150 triệu liều vắc xin cho 70% dân số để đạt được miễn dịch cho cộng đồng mặc dù nguồn cung cấp là yếu tố không chắc chắn, là một hạn chế mà nhiều chính phủ trên toàn thế giới phải đối mặt.

Với kết quả của Chính phủ Việt Nam trong việc kiểm soát thành công đại dịch trong năm qua, một khả năng rất cao là Việt Nam sẽ kiểm soát được đợt bùng phát dịch bệnh hiện nay.

Hải Yến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800