Vận chuyển hàng hóa của Trung Quốc đang đà giảm

14:00 | 01/11/2018

Báo cáo mới nhất của Trung Quốc cho thấy tăng trưởng kinh tế đã giảm so với kỳ vọng. Cùng với đó, hoạt động vận chuyển hàng hóa và dịch vụ vận chuyển đã thể hiện sự suy giảm trong vài tháng trước.

Mỹ lên kế hoạch mở rộng thuế quan với Trung Quốc
Ẩn số vốn FDI rút khỏi Trung Quốc

Hiện tại khoảng 90% các giao dịch hàng hóa trên thế giới được chuyển dịch dưới hình thức các thùng hàng vận chuyển qua đường biển. Chính vì vậy mà hoạt động đường thủy là một chỉ báo quan trọng giúp các nhà đầu tư đánh giá được tình hình kinh tế của một quốc gia cũng như là các tập đoàn bán lẻ lớn.

Ảnh minh họa

Theo Gerry Wang – đồng sáng lập và CEO kỳ cựu của Seaspan, công ty đóng hàng container lớn nhất thế giới cho rằng sự sụt giảm của nền kinh tế Trung Quốc đã bắt đầu được thể hiện thông qua dữ liệu vận chuyển trong 6 tháng trước khi vấn đề này được cảnh báo.

Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2012, Gerry Wang cho rằng hoạt động kinh doanh vận chuyển và đóng hàng qua container của công ty Seaspan đã phản ánh hoạt động kinh tế của toàn cầu, bao gồm mọi thứ từ trao đổi hàng hóa, sản xuất và tiêu dùng. Khối lượng mà Seaspan thực hiện lớn gấp 200 lần so với các công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực như FedEx, DHL hay UPS.

Chính sách thuế mới của chính quyền nước Mỹ áp lên 34 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc có hiệu lực từ tháng 7/2018 đã tạo lực đẩy cho hoạt động nhập khẩu vào những tuần trước đó. Theo phân tích của Accenture về dữ liệu xuất nhập khẩu của Bộ Thương mại, trao đổi thương mại qua container giữa Trung Quốc và Mỹ từ tháng 4 đến tháng 6 đã tăng 10% so với cùng kỳ năm trước.

Trong khi đó, theo dữ liệu Seabury Global Ocean Trade, khối lượng nhập khẩu đã giảm đáng kể sau khi mức thuế gia tăng được áp dụng, nhập khẩu của Mỹ về thép và nhôm từ Trung Quốc đã giảm 53% so với tháng 3/2017 sau khi chính sách thuế gia tăng đối với các sản phẩm này có hiệu lực từ tháng 3/2018 và hoạt động nhập khẩu các mặt hàng trong diện bị áp thuế mới thuộc nhóm hàng nhập khẩu 35 tỷ USD cũng đã giảm 21% so với năm ngoái kể từ tháng 7/2018.

Ngoài ra, dữ liệu vẫn đang tiếp tục chờ xử lý đối với hàng nhập khẩu trị giá 16 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc chịu áp thuế vào tháng 8/2018 và 200 tỷ USD vào tháng 9/2018. Bên cạnh đó, những ảnh hưởng vòng 1 của các chính sách thuế mới có thể được nhận thấy khi quan sát các dữ liệu về hàng hóa được xuất khẩu sang Mỹ.

Các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, số lượng hàng hóa suy giảm trong danh sách chịu thuế cũng đã được chuyển sang các thị trường khác ngoài Mỹ và Trung Quốc. Michel Looten, giám đốc phụ trách vận tải đường biển của Seabury Consulting cho rằng, chúng có thể sẽ chuyển sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức và Ý.

Những ảnh hưởng của chính thuế mới của Chính quyền Mỹ đang thực sự có ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại của Trung Quốc. Trong tháng trước, DHL Global Trade Barometer đã hạ triển vọng thương mại của Trung Quốc xuống 4 điểm, ở mức 59 điểm, phản ánh nền kinh tế nước này vẫn đang tăng trưởng chậm.

Thái Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.860 23.060 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.835 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.860 23.040 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.858 23.073 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.850 23.065 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.880 23.060 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.900 23.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.700
57.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.700
57.400
Vàng SJC 5c
56.700
57.420
Vàng nhẫn 9999
51.150
51.850
Vàng nữ trang 9999
50.850
51.550