Vay trước mắt, lo lâu dài

08:32 | 11/03/2016

Mục tiêu cơ cấu lại nợ theo hướng bền vững hơn khó đạt như kỳ vọng

Sẽ “thắt lưng buộc bụng” để hóa giải nợ công?
Thêm trách nhiệm kìm giữ nợ công
Áp lực trả nợ công

Kế hoạch bị trì hoãn

Khoảng 160.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ (TPCP) đã được Bộ Tài chính huy động thành công chỉ trong 3 tháng cuối năm 2015, cho thấy sự khẩn trương của cơ quan này trong việc cân đối túi tiền quốc gia. Bởi so với kế hoạch năm là 250.000 tỷ đồng, thì hết 3 quý đầu năm 2015 lượng TPCP phát hành mới chỉ đạt 38%.

Như vậy với con số huy động được trong 3 tháng cuối năm 2015, nhiệm vụ chi trả nợ năm 2016 cũng đã phần nào “dễ thở” hơn. Trước đó theo thông tin từ Bộ Tài chính, trong năm 2015-2016, khối lượng TPCP đến hạn thanh toán lên tới hơn 363.000 tỷ đồng, thì con số chi trả nợ phải cân đối trong năm 2016 chỉ còn khoảng hơn 200.000 tỷ đồng.

Tuy nhiên đằng sau sự thành công của việc giảm nhẹ áp lực trả nợ này lại là câu chuyện đáng bàn. Để huy động được khối lượng trái phiếu tăng vọt như vậy, hồi tháng 11/2015, Quốc hội đã phải đồng ý sửa Nghị quyết 78/2014/QH13 về dự toán ngân sách Nhà nước 2015, theo đó cho phép phát hành trái phiếu dưới tất cả các kỳ hạn, bao gồm kỳ hạn ngắn dưới 5 năm.

Sự trở lại của kênh trái phiếu 3 năm đã tạo nên sức hút cho TPCP, khiến cả khối ngoại cũng mua ròng trở lại. Phía cầu đã cho thấy thị trường chưa sẵn sàng cho các kỳ hạn dài. Bằng chứng là 3 quý đầu năm 2015, phát hành TPCP đạt thấp so với kế hoạch khi kỳ hạn trung bình trái phiếu phát hành được nâng lên mức 6,8 năm.

Cấu trúc nợ công giai đoạn 2011-2015 (% tổng nợ công). Nguồn: Bộ Tài chính & VEPR

Cần nhắc lại rằng chỉ ngay trước thời điểm đó, Bộ Tài chính cũng đã trình và được Quốc hội phê duyệt phương án phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế (TPQT) với kỳ hạn dài từ 10 - 30 năm. Lý do được đưa ra là triển vọng huy động vốn từ thị trường trong nước thông qua phát hành TPCP ngày càng khó khăn. Cơ quan này kỳ vọng, đợt phát hành TPQT sẽ không làm tăng dư nợ chính phủ, các chỉ số an toàn về nợ công đến năm 2020 vẫn được duy trì trong giới hạn quy định, đồng thời vẫn đáp ứng được mục tiêu cơ cấu nợ hợp lý theo chiến lược đã đề ra.

Song thực tế đã không diễn biến thuận lợi như vậy. Tính đến thời điểm hiện tại, đã hơn 4 tháng kể từ khi Quốc hội chính thức cho phép phát hành TPQT, song kế hoạch này vẫn chưa được thực hiện. Xét trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, thì phát hành TPQT nhiều khả năng sẽ còn tiếp tục phải trì hoãn lâu dài. Đồng thời diễn biến trên thị trường TPCP trong 2 tháng đầu năm cho thấy, mục tiêu cơ cấu lại nợ theo hướng bền vững hơn có vẻ khó đạt được khi trái phiếu kỳ hạn ngắn vẫn tiếp tục lên ngôi.

Không nên lo đi vay bằng mọi giá

Là người ủng hộ kế hoạch phát hành TPQT, song TS. Nguyễn Đức Kiên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhận định thời điểm hiện nay chưa thích hợp để thực hiện kế hoạch này.

Ông Kiên lý giải, điểm tín nhiệm của Việt Nam trên thị trường TPQT hiện nay vẫn đang quanh mức B++, cho thấy giới đầu tư nước ngoài đang gia tăng tâm lý lo ngại với nợ công, do đó khó có thể thu hút người mua ở các loại trái phiếu kỳ hạn dài. Ngoài ra bên cạnh lãi suất phải trả thì cộng các chi phí trung gian để phát hành ra thị trường quốc tế, nguồn vốn huy động được sẽ không thể rẻ như kỳ vọng.

Thay vào đó, ông Kiên cho rằng đây là thời điểm cần dựa vào nội lực thông qua huy động các nguồn lực đang có trong xã hội. “Chúng ta đang có trong dân 40-50 tỷ USD dưới các loại tài sản khác nhau, tại sao không tìm cách phát hành để thu hút các nguồn lực này đi?”, ông Kiên đặt câu hỏi.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nếu chỉ phát hành trái phiếu trong nước thì khó đạt được mục tiêu thu hút nguồn vốn kỳ hạn dài khi các tổ chức tín dụng vẫn là người mua chính. Số liệu của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho thấy, tính lũy kế trong 2 tháng đầu năm, tổng khối lượng phát hành TPCP là 52.119 tỷ đồng, thì tỷ lệ phát hành thành công vẫn tập trung chủ yếu vào TPCP kỳ hạn 5 năm, chiếm 85%.

“Thực tế này đòi hỏi Bộ Tài chính phải có sự đẩy mạnh phối hợp giữa chính sách tài khoá và tiền tệ. Chứ bây giờ cứ để mặc NH lo chiến đấu với lạm phát, các tổ chức tín dụng đi mua trái phiếu, trong khi đó là nhiệm vụ của chính sách tài khoá”, TS. Nguyễn Đức Kiên bình luận.

Mặc dù việc phát hành trái phiếu để huy động vốn chi trả nợ là câu chuyện cần bàn trước mắt, song về dài hạn các chuyên gia cho rằng không nên lo phát hành trái phiếu bằng mọi giá để đáp ứng nhu cầu đầu tư cho tất cả các bộ, ngành, địa phương như hiện nay.

Theo đó, song song với việc đi vay để cơ cấu lại nợ thì vấn đề cân đối NSNN, giảm thâm hụt ngân sách và giảm nợ công là vô cùng quan trọng. Trong bối cảnh đó cần tiếp tục giảm chi NSNN, nhất là giảm chi đầu tư phát triển từ nguồn NSNN và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của Nhà nước.

Báo cáo về Những đặc điểm của nợ công Việt Nam do Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) công bố mới đây cũng đã lưu ý thêm rằng, chi trả lãi hiện đã chiếm một tỉ lệ lớn trong thu chi ngân sách.

So với tổng chi, chi trả lãi tăng từ 3,2% năm 2010 lên 6,7% năm 2014. Xét về số tuyệt đối thì chi trả lãi năm 2014 tăng gấp 2,6 lần so với năm 2010. Chi trả lãi chỉ thấp hơn chi cho giáo dục đào tạo, lương hưu và an sinh xã hội, và quản lý hành chính, lấn át các khoản chi thường xuyên khác. Tỉ lệ thu ngân sách dành để trả lãi ước tính lên đến 9,2% cho năm 2015.

“Ngân sách trả nợ lãi đang làm xói mòn nguồn vốn cho đầu tư phát triển là một hậu quả trực tiếp của tỉ lệ nợ công cao”, báo cáo của VEPR nhấn mạnh.

Ngọc Khanh

Nguồn:

Tags: nợ công

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.255 23.535 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.235 23.535 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.250 23.536 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.200
67.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.200
67.200
Vàng SJC 5c
66.200
67.220
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.400
53.000