VEPR: Cần củng cố đệm tài khóa bằng giảm biên chế

19:57 | 11/04/2019

Tăng trưởng vẫn duy trì được tốc độ, nhưng có dấu hiệu chững lại. Lạm phát tăng nhẹ trở lại. Cán cân thương mại bất ổn. Doanh nghiệp dừng hoạt động tăng mạnh. Cổ phần hóa dẫm chân tại chỗ. Tấm đệm tài khóa thiếu bền vững… Đó là những điểm đáng lưu ý của nền kinh tế được VEPR chỉ ra trong bức tranh kinh tế quý I/2019.

Tăng trưởng tín dụng đi đúng hướng
Quý I: Xuất nhập khẩu có xu hướng tăng trưởng chậm lại
ADB dự báo kinh tế Việt Nam tăng trưởng 6,8% năm 2019
Kinh tế quý I: Tạm xóa mối lo tăng trưởng thấp
Tăng trưởng GDP quý I/2019 đạt 6,79%

Chiều ngày 11/4/2019, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) đã tổ chức Tọa đàm "Công bố Báo cáo Kinh tế vĩ mô quý I/2019". Chuỗi Báo cáo Kinh tế vĩ mô hàng quý được VEPR thực hiện dưới sự hỗ trợ của Viện Konrad-Adenauer (KAS).

Báo cáo nhận xét, tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý I ở mức 6,79%, thấp hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm trước (7,45%). Trong đó, tốc độ tăng của một số ngành có dấu hiệu chậm lại. Đáng lưu ý là sự sụt giảm mạnh của chỉ số PMI xuống mức thấp nhất trong vòng ba năm qua vào tháng 2/2019, do sự sụt giảm về lượng việc làm và hàng tồn kho khiến mức độ lạc quan của nhà sản xuất cũng giảm đáng kể.

Bên cạnh đó, tăng trưởng của nền kinh tế vẫn tiếp tục phụ thuộc vào FDI và xuất khẩu của khu vực này đạt 41,46 tỷ USD, chiếm tới 70,9% tổng kim ngạch. Nhìn vào bức tranh thương mại này, TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế, đặt câu hỏi: “Nếu có diễn biến không tốt, có một ngày doanh nghiệp FDI xách va li về quê thì ngoại thương của Việt Nam sẽ ra sao?”

Sự bất ổn thể hiện ở số liệu. VEPR dẫn số liệu cán cân thương mại hàng hóa tháng một xuất siêu 816 triệu USD, nhưng tháng hai nhập siêu 768 triệu USD, tháng ba lại xuất siêu 1,63 tỷ USD. Trong khi đó, xuất khẩu vẫn luôn được dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn do kinh tế thế giới tăng trưởng không tốt, lại thêm nhiều xung đột thương mại và bất ổn chính trị, cho thấy xuất siêu thiếu bền vững, nhập siêu luôn có khả năng trở lại.

Tính bất định của triển vọng kinh tế cũng ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp. Trong quý I/2019 có 43,5 nghìn doanh nghiệp đăng kí thành lập mới hoặc quay trở lại hoạt động, nhưng cũng có tới 14,8 nghìn doanh nghiệp tạm dừng hoạt động (tăng 20,8%); có 15,3 nghìn doanh nghiệp chờ giải thể; 4,1 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể (tăng 23,9%). Điều này cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam còn khá yếu và môi trường kinh doanh cần tiếp tục được cải thiện.

Về mặt bằng giá trong nước, VEPR có nhận xét lạm phát quý I/2019 mặc dù ở mức vừa phải nhưng có xu hướng tăng trước những điều chỉnh giá điện và xăng dầu gần đây. Tác động của các cú sốc này tới giá cả trong nước có thể kéo dài tới nhiều tháng tiếp theo, nên đòi hỏi sự điều hành thận trọng từ phía NHNN đối với tăng trưởng cung tiền và tín dụng trong thời gian tới.

Ở một diễn biến nổi trội khác, sự chuyển dịch của dòng FDI vào Việt Nam nhằm tận dụng cơ hội từ CPTPP, EVFTA và phòng ngừa rủi ro từ căng thẳng thương mại Mỹ - Trung là một điểm cần chú ý khác trong năm nay.

Trong quý I/2019, Trung Quốc đã trở thành một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất vào Việt Nam. Dòng vốn từ Trung Quốc ngoài những tích cực đem lại cho việc làm và tăng trưởng, thì cũng có thể kéo theo những rủi ro về môi trường và quản lý lao động nước ngoài.

“Đã đến lúc Việt Nam cần rà soát lại các chính sách ưu đãi về thuế khóa hay đất đai đối với FDI nhằm tạo ra môi trường bình đẳng hơn với các doanh nghiệp trong nước”, PGS-TS. Phạm Thế Anh (Trường Đại học Kinh tế quốc dân, chuyên gia cộng tác của VEPR) lưu ý.

Về tiến tình cổ phần hóa khu vực DNNN gần như không có sự tiến triển trong suốt một năm qua. TS. Phạm Thế Anh nói rằng nguyên nhân là khó khăn trong quá trình định giá tài sản và tâm lý sợ trách nhiệm.

Trong phần khuyến nghị chính sách, lần này báo cáo đưa ra khuyến nghị rất cụ thể và tập trung, đó là: Ở mức độ dài hạn hơn, Việt Nam cần từng bước xây dựng đệm tài khóa, trước tiên thông qua việc tinh giản bộ máy nhà nước và cắt giảm chi tiêu thường xuyên.

Theo nhóm chuyên gia của VEPR, dù ngân sách quý I có thặng dư do nhu cầu chi thấp, nhưng điều đó càng thể hiện sự thiếu bền vững của tài khóa. Đó là chi thường xuyên đang quá lớn bởi bộ máy hành chính cồng kềnh kém hiệu quả khiến ngân sách luôn trong cảnh thu không đủ bù chi.

Đồng thời, nợ công tuy đã giảm về mức 61% GDP, nhưng theo nhận xét của TS. Thế Anh thì khoảng cách từ 61% đến ngưỡng nợ công 65% mà Quốc hội cho phép rất gần. Hơn nữa, số liệu nợ công được báo cáo rất chậm nên không phản ánh chính xác tình hình nợ công.

Và một khi vấn đề thâm hụt ngân sách cao và nợ công tăng nhanh chưa được giải quyết, những thành tích về tăng trưởng hay lạm phát đang phải dựa vào một nền tảng bấp bênh.

Tuy nhiên, lấy lại cân bằng cho ngân sách, cắt giảm bộ máy không phải việc dễ làm và không thể lấy lại cân bằng được ngay, nhưng “nếu ta không quyết làm ngay sẽ kéo dài không biết đến lúc nào mới giải quyết được”, TS. Phạm Thế Anh phát biểu.

TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VEPR cho biết các chính sách dài hạn hơn và mang tính cấu trúc sẽ được trình bày tại các báo cáo chính sách khác của VEPR.

Dự báo tăng trưởng năm 2019 của VEPR

 

Linh ly

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800