Videc xin đổi tên dự án The Diamond Park để tránh hiểu nhầm

11:16 | 26/07/2019

Công ty cổ phần Tập đoàn Videc vừa chính thức lên tiếng về các vấn đề Kết luận thanh tra của Hà Nội chỉ ra đối với dự án Khu nhà ở cho người thu nhập thấp tại Mê Linh, Hà Nội (The Diamond Park).

Nhiều vi phạm tại dự án The Diamond Park, Tập đoàn Videc bị xử phạt gần 33 triệu đồng
Thanh tra phát hiện hàng loạt sai phạm tại dự án The Diamond Park của Videc

Trước đó, theo Kết luận thanh tra dự án Khu nhà ở cho người thu nhập thấp (The Diamond Park) do Videc làm chủ đầu tư, Hà Nội cho biết, dự án có tên xây dựng nhà ở cho công nhân và người thu nhập thấp nhưng quyết định của UBND tỉnh Vĩnh Phúc vẫn đồng ý cho Tập đoàn Videc làm nhà liền kề, biệt thự…

Dự án The Diamond Park do Videc làm chủ đầu tư

Tên dự án gây hiểu nhầm

Về vấn đề này, ông Nguyễn Quốc Dũng, Phó Tổng Giám đốc Videc cho hay, dự án The Diamond Park theo hồ sơ được phê duyệt là dự án Khu nhà ở hỗn hợp, trong đó chỉ có 1 phần xây dựng nhà ở xã hội.

Cụ thể, trong Quyết định số 2365/QĐ-UBND ngày 11/7/2008 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc xác định dự án: “Tính chất: Là khu nhà ở được đầu tư xây dựng mới đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; một phần dành cho các đối tượng có thu nhập thấp đáp ứng nhu cầu ở và sinh hoạt của nhân dân địa phương, góp phần hoàn chỉnh Quy hoạch chung Đô thị mới Mê Linh theo xu hướng hiện đại hóa. Quy mô quy hoạch 14,449ha; Quy mô dân số: 2.400 người…”.

Theo ông Nguyễn Quốc Dũng: “Vì vẫn giữ nguyên tên gọi pháp lý là dự án là Khu nhà ở cho người thu nhập thấp nên gây hiểu lầm, với những thông tin làm “nóng” truyền thông thời gian vừa qua. Trước vấn đề này, Videc đã có kiến nghị xin đổi tên dự án về đúng bản chất để tránh suy diễn không nên có”.

Còn về phần diện tích dành cho nhà ở xã hội bị cho là “ăn bớt”, dành đất để phân lô biệt thự, nhà liền kề, ông Dũng cho hay, theo quy hoạch ban đầu năm 2008, dự án có quy mô 14,449ha, trong đó diện tích đất ở 50.005,5m2 gồm nhà biệt thự 21.634m2; nhà liền kề 13.824,5m2; nhà ở xã hội là 14.546m2. Như vậy, diện tích xây dựng nhà ở xã hội chiếm 29,08% diện tích đất xây nhà ở.

Đến tháng 3/2017, dự án được UBND TP. Hà Nội phê duyệt điều chỉnh tổng thể quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, quy mô 16,78 ha (tăng hơn 2,33ha). Trong đó, đất ở 67.389 m2 gồm Nhà biệt thự 27.686m2; Nhà liền kề 22.688m2; Nhà nhà ở xã hội là 17.015m2. Theo đó, diện tích xây dựng nhà ở xã hội chiếm 25,25% diện tích đất xây nhà ở.

Đại diện Videc khẳng định: “Như vậy, diện tích đất để xây dựng làm quỹ nhà ở xã hội của dự án Khu nhà ở cho người thu nhập thấp từ giai đoạn cho phép đầu tư và sau khi điều chỉnh tổng thể quy hoạch chi tiết không có chuyện chủ đầu tư “cắt xén” phần diện tích nhà ở xã hội”.

Dự án ước tính đang âm hơn 164 tỷ đồng

Đối với vấn đề huy động vốn và kinh doanh, trong Kết luận thanh tra, Hà Nội chỉ ra việc chủ đầu tư ký 74 hợp đồng huy động vốn thời điểm năm 2010 là chưa đúng quy định. Về việc này, ông Nguyễn Quốc Dũng cho rằng, vào năm 2010, dự án đã hoàn thành giải phóng phần lớn mặt bằng và đã thi công hạ tầng đối với các khu vực đã giải phóng mặt bằng theo quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đã được UBND tỉnh Vĩnh Phúc phê duyệt.

Do đó, việc chủ đầu tư ký hợp đồng hợp tác với khách hàng là phù hợp với quy định tại Khoản 1, Phần VIII Thông tư số 04/2006/TT-BXD ngày 18/8/2006 của Bộ Xây dựng “... lần đầu chỉ được huy động khi chủ đầu tư đã giải phóng mặt bằng và bắt đầu triển khai xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật theo giai đoạn đầu tư đã được xác định trong Quyết định cho phép đầu tư”.

Tuy nhiên, theo quan điểm của cơ quan thanh tra tại Kết luận thanh tra thì tại thời điểm đó dự án đang phải điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 của Dự án để khớp nối hạ tầng. Theo đó, việc thi công hạ tầng dự án trước khi điều chỉnh quy hoạch chi tiết 1/500 là không phù hợp nên việc chủ đầu tư ký hợp đồng hợp tác với khách hàng trong thời điểm này là có vi phạm.

Đại diện Videc cho rằng: “Như vậy, Chủ đầu tư ký hợp đồng hợp tác với các nhà đầu tư cá nhân để đầu tư thực hiện dự án là có cơ sở về giải phóng mặt bằng và thi công hạ tầng dự án; đồng thời phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự 2005 (Mục 7), Luật Đầu tư 2005 (Điều 23)”.

Còn việc ký 87 hợp đồng mua bán với khách hàng năm 2017, 2018, ông Nguyễn Quốc Dũng cho biết, Videc có chậm trễ trong việc hoàn thành thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư của Dự án do có vướng mắc tại địa phương là nhân dân thôn Do Thượng đề nghị tiếp tục điều chỉnh quy hoạch dự án để có khu vực vui chơi thể thao công cộng cho dân cư dự án và nhân dân địa phương.

Hiện nay, Videc đã nộp hồ sơ xin điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án vào Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội.

Phủ nhận thông tin Videc thu lời hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng từ việc kinh doanh nhà liền kề, biệt thự tại dự án, đại diện Videc cho hay, dự án được phê duyệt với quy mô xấp xỉ 16,8ha, trong đó diện tích đất nhà ở liền kề và biệt thự khoảng 5ha. Đơn giá đền bù của TP. Hà Nội xấp xỉ 1 triệu đồng/m2. Chi phí giải phóng mặt bằng chủ đầu tư phải bỏ ra, chi trả tính khoảng 168 tỷ đồng. Về xây dựng hạ tầng, theo suất vốn đầu tư của Bộ Xây dựng khoảng 6,5 tỷ đồng/ha.

Như vậy, chi phí xây dựng hạ tầng của dự án xấp xỉ khoảng 110 tỷ đồng. Tiền sử dụng đất theo đơn giá được phê duyệt 1.070.000/m2 thì tiền sử dụng đất của dự án xấp xỉ 54 tỷ đồng.

Tổng chi phí dự án tính sơ bộ ban đầu 332 tỷ đồng. Dự án bị kéo dài 10 năm (từ 2008 đến 2019) do thay đổi địa giới hành chính. Trong khi đó, lãi suất ngân hàng 10 năm qua dao động từ 12 - 25%/năm. Bởi vậy, tính cả lãi suất ngân hàng, tổng chi phí dự án The Diamond Park bị tăng lên tối thiểu 200%, xấp xỉ 664 tỷ đồng.

Về doanh thu, nếu bán hết đất liền kề, biệt thự theo đơn giá thị trường hiện tại khoảng 10 triệu đồng/m2, doanh thu chủ đầu tư thu về khoảng 500 tỷ đồng. Tuy nhiên thị trường bất động sản Mê Linh tính thanh khoản đang rất kém. 

Vì vậy, dự án theo tính toán của chủ đầu tư ước tính đang âm hơn 164 tỷ đồng, trong khi chủ đầu tư còn phải đầu tư hạ tầng xã hội, các tiện ích cho dự án chưa kể các chi phí quản lý điều hành và các chi phí khác trong 10 năm qua.

Hiện tại, Videc đã tổ chức khắc phục các vi phạm, chấp hành việc xử lý hành chính của các cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư, xây dựng, kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Doanh nghiệp cho biết đã nộp hồ sơ trình Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thẩm định việc điều chỉnh chủ trương đầu tư, trong đó bao gồm nội dung thay đổi tên dự án theo đúng quy định hiện hành.

Hồng Hạnh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950