Việt Nam sẵn sàng phát triển hơn 1 GW điện gió vào năm 2021

09:20 | 12/06/2019

Báo cáo thị trường mới của Hiệp hội Điện gió Toàn cầu (GWEC) mang tên “Cập nhật thị trường Đông Nam Á: Tổng quan thị trường Việt Nam” vừa được công bố, chỉ ra tiềm năng của điện gió trong nước.

Việt Nam có thể trở thành quốc gia dẫn đầu trong ngành năng lượng gió của khu vực, hiện đã có hơn 327 MW công suất gió trên bờ và trên biển được lắp đặt.

Ngày 11/6/2019, Hiệp hội Điện gió toàn cầu (GWEC) tổ chức Hội nghị Điện gió Việt Nam thường niên lần thứ hai, quy tụ các công ty điện gió quốc tế lớn, các cơ quan năng lượng, tổ chức tài chính và cơ quan quản lý nhằm thảo luận về tiềm năng của ngành điện gió tại Việt Nam và tác động của năng lượng tái tạo trong khu vực.

Báo cáo thị trường mới của Hiệp hội Điện gió Toàn cầu (GWEC) mang tên “Cập nhật thị trường Đông Nam Á: Tổng quan thị trường Việt Nam” cung cấp những thông tin về cách Việt Nam có thể trở thành quốc gia dẫn đầu trong ngành năng lượng gió của khu vực, hiện đã có hơn 327 MW công suất gió trên bờ và trên biển được lắp đặt.

Ông Ben Backwell, Giám đốc điều hành của GWEC cho biết, Đông Nam Á có đầy đủ các yếu tố cơ bản để trở thành thị trường điện gió lớn tiếp theo. Với dân số đang gia tăng, GDP ngày càng cao, nhu cầu năng lượng tăng cao hơn bao giờ hết cùng với những lo ngại về an ninh năng lượng, điện gió đang hỗ trợ đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng cao của khu vực theo phương thức duy trì hàm lượng carbon thấp, tiết kiệm chi phí và mang lại lợi ích kinh tế cho địa phương.

Báo cáo Market Intelligence mới của GWEC cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia tiềm năng nhất trong khu vực về cả gió trên bờ và trên biển, với công suất dự kiến 1GW sẽ được lắp đặt vào năm 2021. Đường bờ biển dài 3.000 km giúp Việt Nam có được nguồn tài nguyên tốt nhất cho cả gió trên bờ và trên biển, và đây là quốc gia duy nhất trong khu vực đã phát triển điện gió trên biển với 99 MW đã được lắp đặt.

Sự thay đổi trong chính sách địa phương đang tạo ra động lực đổi mới và mở ra những cơ hội đáng kể cho sự phát triển của thị trường điện gió tại Việt Nam nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung.

Bà Liming Qiao, Giám đốc khu vực châu Á của GWEC cho biết với việc thiết lập biểu giá thuận lợi và mục tiêu năng lượng tái tạo đầy tham vọng cho đến năm 2030, rõ ràng Chính phủ đã sẵn sàng chuyển sang sử dụng năng lượng sạch.

Tuy nhiên, than tiếp tục là nguồn năng lượng chính ở các thị trường Đông Nam Á, và Việt Nam phải vượt qua các rào cản như các vấn đề tài chính của dự án và khả năng tiếp cận vốn vay của các hợp đồng mua bán điện (PPA) để tiếp tục mở rộng trong khu vực...

Điện gió đang là một trong những ngành phát triển nhanh nhất thế giới. Chỉ tính riêng năm 2017, tổng vốn đầu tư toàn cầu cho điện gió đạt mức 107 tỷ USD với hơn 1,15 triệu lao động trên toàn thế giới.

Ngày càng nhiều thị trường lựa chọn điện gió làm nguồn cung năng lượng, bởi đây là lựa chọn sản xuất điện chi phí hiệu quả nhất. Tới năm 2025, điện gió có thể trở thành động lực phát triển chính hướng tới tương lai năng lượng bền vững và sẽ là tình hình chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Ông Naveen Ballachandran, Cố vấn đặc biệt của GWEC cho hay, Chính phủ Việt Nam đã đi đầu và thiết lập các mục tiêu năng lượng tái tạo để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng và phát triển kinh tế năng lượng bền vững. Mục tiêu hiện tại là cung cấp 10,7% sản lượng điện đến từ năng lượng tái tạo vào năm 2030. Việt Nam cũng đã thiết lập mục tiêu 800 MW gió cụ thể vào năm 2020 để đáp ứng các mục tiêu năng lượng tái tạo.

Để đạt được các mục tiêu trên, Chính phủ cũng đã đưa ra nhiều cơ chế ưu đãi hấp dẫn để khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực điện gió. Về cơ chế giá, đối với các dự án điện gió trong đất liền, giá mua điện tại điểm giao nhận điện là 1.928 đồng/kWh (tương đương 8,5 cent/kWh); dự án điện gió trên biển là 2.223 đồng/kWh (tương đương 9,8 cent/kWh) chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng là khá hấp dẫn.

HS

Nguồn:

Tags: điện gió

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.200 23.410 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.230 23.410 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.213 23.403 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.220 23.370 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.210 23.380 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.210 23.380 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.215 23.425 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.198 23.398 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.230 23.400 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.260 23.390 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.340
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.340
48.750
Vàng SJC 5c
48.340
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.480
48.180
Vàng nữ trang 9999
47.180
47.980