VietinBank: Bước chuyển về chất lượng tài sản

14:30 | 21/02/2020

Lũy kế cả năm 2019, lợi nhuận trước thuế của VietinBank đạt 11.780 tỷ đồng, tăng gần 80% so với cùng kỳ - mức cao nhất  kể từ khi ngân hàng này thành lập, cao hơn so với kế hoạch đầu năm. Đây là điểm đáng chú ý nhất trong báo cáo tài chính quý IV/2019 mà VietinBank đã công bố.

VietinBank: Tích cực phòng chống dịch và hỗ trợ doanh nghiệp, người dân bị tác động bởi dịch Covid-19
VietinBank cộng thêm lãi suất cho khách hàng khi gửi tiết kiệm online
Năm 2020, VietinBank đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế đạt 12.600 tỷ đồng

Điểm nhấn tốc độ cải thiện hiệu quả 

Sự tăng trưởng mạnh mẽ này được tích góp từ sự chuyển mình trong cơ cấu cho vay của VietinBank, với tốc dộ tăng trưởng cho vay cá nhân và doanh nghiệp tăng lần lượt 25,2% và 16,1% so với cùng kỳ, trong khi cho vay đối với các tập đoàn lớn giảm 4,6%. Cơ cấu tín dụng chuyển dịch cho vay DNNVV và bán lẻ (tỷ trọng tăng từ 50% lên 54%) giúp ngân hàng cải thiện được tỷ lệ thu nhập lãi thuần, hệ số NIM tăng từ 2,6% trong năm 2018 lên 2,9% trong năm 2019. VietinBank cũng giảm số dư trái phiếu doanh nghiệp trong khi mở rộng đầu tư trái phiếu liên ngân hàng. Đây là chiến lược phù hợp vì quá trình này cần ít vốn hơn để mở rộng tài sản sinh lãi do hạn chế về vốn của ngân hàng.

Bên cạnh đó là việc cắt giảm chi phí vốn thông qua gia tăng huy động các khoản tiền gửi ngắn hạn (tăng 22,6%), trong khi giảm mạnh 68,7% các khoản tiền gửi dài hạn. Tiền gửi không kỳ hạn (CASA) được cải thiện, với tổng tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn bằng ngoại tệ chiếm 20,2% tổng số tiền gửi (so với 19,4% trong năm 2018).

Đáng nói là trong bối cảnh vốn điều lệ chưa tăng được như kế hoạch nên VietinBank đã chủ động điều chỉnh tốc độ tăng trưởng, và điểm nhấn quan trọng là tốc độ cải thiện hiệu quả cao hơn 5 lần tốc độ tăng trưởng quy mô kinh doanh, thu thuần dịch vụ tăng 43% so với năm 2018 lên gần 4.000 tỷ đồng. Nguồn thu nhập ngoài lãi chiếm khoảng 22% tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng năm 2019, tỷ lệ thu ngoài lãi chiếm 22% tổng doanh thu. Trong khi đó, chi phí hoạt động được quản lý kiểm soát hiệu quả, tỷ lệ chi phí/thu nhập hoạt động (CIR) giảm mạnh xuống còn 37% từ mức gần 50% của năm 2018.

Trong năm qua, VietinBank tiếp tục đẩy nhanh xử lý nợ xấu bằng trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu còn tồn đọng. Cụ thể, VietinBank đã trích lập hơn 5.000 tỷ đồng chi phí dự phòng cho số dư trái phiếu VAMC trong năm 2019 (tương đương 37% dư gộp trái phiếu), tăng 78,6% so với cùng kỳ. VietinBank cũng xóa 8.590 tỷ đồng nợ xấu, cao hơn nhiều so với 255 tỷ đồng trong năm 2018. Tổng cộng, tổng số nợ xấu và trái phiếu VAMC đã được xử lý đạt 13.610 tỷ đồng, tăng 43,2% so với 9.500 tỷ đồng trong năm 2018.

Trong năm, VietinBank cũng đã trích 8.500 tỷ đồng cho dự phòng nợ xấu, tăng 72% so với cùng kỳ và tương đương 21% tổng thu nhập hoạt động so với 17,4% trong năm 2018. Mức trích lập dự phòng này bằng gần một nửa so với BIDV (37,3%), nhưng cao hơn Vietcombank (14,8%).

Nút thắt vốn dần hóa giải

Năm 2020, VietinBank đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế đạt 12.600 tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2019 với lợi suất ROE từ 13% lên 15%. Tổng tài sản, tín dụng và tiền gửi đặt kế hoạch tăng lần lượt ở mức 6-7%, 8-10% và 10-12%. Công ty Chứng khoán SSI ước tính lợi nhuận trước thuế năm 2020 của VietinBank đạt 13.150 tỷ đồng, tương đương tăng 11,6% với ROAA và ROAE là 0,82% và 13,3%. 

Điểm tựa cho kế hoạch này được Chủ tịch HĐQT Lê Đức Thọ chia sẻ là ngân hàng sẽ tiếp tục mở rộng bán lẻ, khu vực DNNVV và FDI, cuối năm 2019 tỷ trọng tín dụng các mảng này tương ứng là 33%, 23% và 5%. Theo đó, tỷ trọng bán lẻ còn tương đối thấp so với các NHTM Nhà nước và có nhiều dư địa để tăng trưởng. SSI ước tính hệ số NIM của ngân hàng sẽ được cải thiện từ 2,88% trong năm 2019 lên 2,96% năm 2020. Theo đó, thu nhập lãi ròng ước tăng 11% trong năm 2020 nhờ NIM cải thiện.

Chuyên viên phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt, Nguyễn Thị Thúy Anh cho biết: vấn đề của VietinBank chủ yếu liên quan đến an toàn vốn, với hệ số CAR về gần mức ngưỡng 9%. VietinBank chưa được áp dụng Thông tư 41 (Basel II), đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ khó tăng trưởng tín dụng mạnh, cũng như có thể không được hưởng một số ưu đãi như các ngân hàng Basel II khác.

Tuy nhiên, theo ông Lê Đức Thọ thì VietinBank sẽ được cho phép giữ lại lợi nhuận năm 2017 và 2018 để chia cổ tức bằng cổ phiếu nhằm tăng vốn điều lệ ngân hàng trong thời gian sớm. Đến thời điểm hiện tại, ngân hàng đã đáp ứng toàn diện 2 trong 3 trục chính của tiêu chuẩn Basel II về cơ cấu quản trị, quy trình, quy định kiểm soát nội bộ, hệ thống công nghệ thông tin. Ngay sau khi được thực hiện tăng vốn điều lệ, VietinBank sẽ đáp ứng yêu cầu về hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) và chuẩn Basel II.  

Như vậy, những khó khăn trước mắt của năm 2020 sẽ phần nào được tháo gỡ. Nhìn xa hơn, để có thể đảm bảo tăng trưởng dài hạn, VietinBank cũng đang tích cực nghiên cứu các phương án tăng vốn tiếp theo để trình Chính phủ và cơ quan ban ngành, nhằm đảm bảo tăng trưởng tín dụng hỗ trợ nền kinh tế. 

Với bài toán nợ xấu theo dự báo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể giảm xuống 6-6,3% trong trường hợp dịch COVID-19 được kiểm soát hoàn toàn trong nửa đầu năm. Báo cáo của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV cho thấy, ảnh hưởng của dịch  lên ngành Ngân hàng sẽ tác động ở 3 khía cạnh quan trọng: Cầu tín dụng giảm, do nhu cầu tín dụng của các DN, hộ gia đình thấp hơn, đặc biệt là trong quý 1 và quý 2; Tiềm ẩn nợ xấu tăng, khi các DN, hộ gia đình chịu tác động tiêu cực từ dịch bệnh, dẫn đến hoạt động sản xuất – kinh doanh gặp khó khăn;  Nhu cầu giao dịch qua ngân hàng số, thanh toán không dùng tiền mặt tăng do một số khách hàng ngại tiếp xúc. 

Dù vậy, chất lượng tài sản toàn Ngành vẫn đang được kiểm soát tốt với tỷ lệ nợ xấu giảm và tỷ lệ dự phòng tăng so với năm 2018 ở hầu hết các ngân hàng. Ở VietinBank, chất lượng tài sản nội bảng vẫn tương đối tích cực với tỷ lệ nợ xấu giảm còn 1,2% (so với 1,6% cuối năm 2018), tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu  đạt 128% (so với 95% cuối năm 2018). Đáng nói là trong năm 2019, VietinBank đã trích lập hơn 54% mệnh giá trái phiếu đặc biệt VAMC. Ban lãnh đạo cho biết, ngân hàng không có kế hoạch tiếp tục bán nợ sang VAMC trong những năm tới.

Theo quan điểm của CTCK VietinBank, VietinBank hoàn toàn có thể trích lập hết toàn bộ số trái phiếu đặc biệt còn lại trong năm 2020, từ đó giảm gánh nặng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Thêm vào đó, nguồn thu nhập khác từ việc thu hồi nợ xấu cũng sẽ đóng góp vào tăng trưởng lợi nhuận của ngân hàng từ năm 2021.

Vì vậy, nếu tình hình dịch bệnh không trở nên quá tiêu cực, ngân hàng vẫn sẽ kiểm soát được vấn đề này. Tới đây, khi tăng vốn thành công và được áp dụng Basel II, triển vọng của VietinBank sẽ được cải thiện và ngân hàng có thể được hưởng mức định giá tốt hơn.

Nhất Thanh

Nguồn:

Tags: VietinBank

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.440 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.460 23.640 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.425 23.615 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.630 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.450 23.620 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.435 23.620 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.460 23.620 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.500 23.610 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.200
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.200
48.200
Vàng SJC 5c
47.200
48.220
Vàng nhẫn 9999
44.600
45.800
Vàng nữ trang 9999
44.300
45.600