Vốn trên OMO ế, vì sao?

10:00 | 10/07/2017

Một lý do có thể dẫn đến tình trạng các NH để vốn "nhàn rỗi" nhiều hơn so với thời điểm trước được một CEO NH chia sẻ là vì các NH đang tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ số tài chính, rủi ro do NHNN quy định, đặc biệt là tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn 50% (sẽ giảm còn 40% vào năm 2018). 

Các TCTD lạc quan về triển vọng kinh doanh, lợi nhuận năm 2017
Tín dụng 6 tháng ước tăng 7,54%, cao nhất trong vòng 6 năm

Từ đầu năm đến nay, để điều tiết thị trường, NHNN chủ yếu sử dụng hai kênh chính là cho vay cầm cố trên thị trường mở (OMO) và phát hành tín phiếu. Các kênh trên đã tác động trực tiếp tới nguồn vốn khả dụng, thanh khoản của hệ thống. Đây cũng là những kênh, công cụ hỗ trợ điều hoà lượng tiền cung ứng, giữ ổn định lãi suất và tỷ giá.

Một điểm đáng lưu ý trong khoảng một tuần trở lại đây, dù nhà điều hành vẫn đều đặn chào hỗ trợ vốn quy mô 1.000 tỷ đồng mỗi phiên, nhưng đều bị “ế”. Số dư vay mượn đến 27/6 tiếp tục bằng 0.

Trước đó, tuy không sử dụng công cụ OMO để trực tiếp bơm tiền, song các chuyên gia cho rằng NHNN vẫn gián tiếp bơm tiền ra hệ thống thông qua việc mua vào ngoại tệ cho dự trữ giúp duy trì thanh khoản hệ thống. Động thái chính sách này đã góp phần tích cực giữ ổn định tỷ giá bất chấp những biến động chính sách từ thị trường tài chính quốc tế... Nhờ tăng thêm mua vào ngoại tệ đã giúp dự trữ ngoại hối của Việt Nam đạt gần 42 tỷ USD cao nhất từ trước đến nay.

Thanh khoản dư thừa đã làm cho giá vốn trên thị trường giảm

Thanh khoản dư thừa cũng đã làm cho giá vốn trên thị trường này giảm mạnh so với cuối năm ngoái. Theo đánh giá của Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia, kể từ đầu tháng 5/2017 đến nay, căng thẳng thanh khoản dần hạ nhiệt và trở nên dư thừa, kéo lãi suất liên NH các kỳ hạn liên tục giảm và duy trì ở mức thấp.

Tính đến 30/6/2017, lãi suất liên NH đã giảm dần về mức 2,6-3,4% cho các kỳ hạn. Tức là giảm từ 1,7-2,5 điểm phần trăm so với cuối tháng 4. Nguyên nhân chủ yếu khiến lãi suất liên NH giảm được cơ quan này nhận định là do tính thời vụ, nhu cầu tín dụng đã giảm, không còn cao như quý I. Dự báo mức lãi suất thấp sẽ tiếp tục được duy trì trong quý III.

Lãnh đạo một NHTM ghi nhận đây là thời điểm "trũng" của tín dụng nên vốn NH dư thừa nhiều hơn. Sự dư thừa này theo suy đoán của vị CEO trên không phải do NH huy động vốn nhiều chưa sử dụng đến mà đó chính là dòng tiền mới quay trở về từ “cõi chết” (nợ xấu-PV) đã nhiều hơn.

“Nhìn trên bảng cân đối tài chính, con số nợ xấu không thay đổi nhiều. Nhưng thực tế nợ xấu của các NH đang có xu hướng giảm nhờ thị trường bất động sản ấm lên trong thời gian qua. Nợ xấu được giải quyết dòng tiền mới được luân chuyển vào nền kinh tế hoặc nằm lại NH. Đây là thông tin rất tích cực đối với thị trường tiền tệ. Đó cũng có thể là lý do vốn NH đang khá dư dả”, vị CEO này phân tích.

Thực tế là con số huy động vốn của NH tăng trưởng còn thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Số liệu mà Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia vừa công bố cho thấy 6 tháng huy động vốn của các TCTD tăng 5,89% trong khi cùng kỳ năm trước tăng 8,23%.

Một lý do có thể dẫn đến tình trạng các NH để vốn "nhàn rỗi" nhiều hơn so với thời điểm trước được một CEO NH khác chia sẻ là vì các NH đang tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ số tài chính, rủi ro do NHNN quy định, đặc biệt là tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn 50% (sẽ giảm còn 40% vào năm 2018).

Muốn đảm bảo chỉ số này, có hai cách phổ biến mà NH sử dụng: một là tăng nguồn vốn huy động trung dài hạn lên. Cách này vừa khó vừa tăng chi phí cho NH. Giải pháp thứ hai, được các NH lựa chọn nhiều hơn là tăng tổng nguồn vốn huy động lên để tăng mẫu số giúp tỷ lệ sử dụng vốn trung dài hạn thấp đi. Do trong tổng nguồn vốn này đa phần là vốn ngắn hạn nên các NH cũng không dám đẩy mạnh ra đầu tư cho vay mà vẫn giữ lại NH để đảm bảo chỉ số này không xảy ra biến động. Việc để vốn dư thừa chắc chắn sẽ tác động đến chi phí hoạt động NH. Nhưng theo vị CEO trên, NH nào cũng vậy, muốn sống sót được phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định NHNN.

TS. Võ Trí Thành còn bổ sung thêm một lý do khiến cho thanh khoản NH dư dả nhiều hơn trong thời điểm này là do giải ngân đầu tư kém nên kho bạc Nhà nước đành phải ký gửi tại các NH. Đây là điểm không tích cực nếu xét tính hiệu quả kinh tế.

Thậm chí, theo vị chuyên gia này, chính điều này đang tạo sức ép lên hệ thống NH về việc phải giảm lãi suất hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Khi thanh khoản dồi dào, lãi suất liên NH giảm mạnh đương nhiên thị trường sẽ yêu cầu các NH phải giảm lãi suất. Nhưng các yếu tố trên chỉ tác động gián tiếp, mang tính chất ngắn hạn, trong khi các chỉ số về dài hạn không cho phép các NH thực hiện mục tiêu trên bởi các NH đang phải xử lý rất nhiều vấn đề tồn tại cả trước mắt lẫn trong tương lai như quy định chặt chẽ NHNN, áp dụng thông lệ quốc tế…

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.850 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.830 23.050 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.860 23.040 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.020 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.850 23.065 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.835 23.050 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.850 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.880 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.200
Vàng SJC 5c
56.500
57.220
Vàng nhẫn 9999
50.950
51.650
Vàng nữ trang 9999
50.650
51.350