Vòng tuần hoàn tín dụng tăng nhanh

11:00 | 16/01/2019

Năm 2019, NHNN Việt Nam định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%, tín dụng tăng khoảng 14% là hoàn toàn hợp lý, nó vừa dựa trên kết quả tăng trưởng tín dụng trong năm 2018 vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong năm 2019 lấy ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, cũng như các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ.

Ông Tô Duy Lâm

Trả lời phỏng vấn Thời báo Ngân hàng về vai trò của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế TP.HCM, ông Tô Duy Lâm – Giám đốc NHNN TP.HCM cho biết: Phân tích đánh giá về khả năng đáp ứng vốn cho nền kinh tế và vai trò của tín dụng đối với phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM trong năm 2018, phản ánh trên 4 phương diện sau:

Thứ nhất, tín dụng trên địa bàn TP.HCM tăng trưởng hợp lý (16%), phù hợp với định hướng của NHNN. Đồng thời đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng, DN hoạt động sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực: xuất khẩu, thương mại du lịch và đầu tư, nông nghiệp nông thôn, DNNVV.

Thứ hai, thị trường tiền tệ ổn định, lãi suất, tỷ giá không biến động và ở mức hợp lý phù hợp cung cầu thị trường và theo định hướng điều hành của NHNN, góp phần quan trọng trong việc giữ ổn định vĩ mô, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, tín dụng vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, chiếm khoảng 75% tổng dư nợ. Trong đó tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực kinh tế phát triển, có xu hướng tăng trưởng tốt như: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Ngành xây dựng; Ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động có khác...

Thứ tư, chất lượng tín dụng cải thiện hơn so với những năm trước đây, tính đến cuối năm 2018 tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn còn 2,9% trong tổng dư nợ.

Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2018 thấp hơn so với mọi năm có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của người dân và doanh nghiệp, thưa ông?

Như đã nói ở trên tín dụng đã và đang dần ổn định và tập trung vào sản xuất kinh doanh theo đúng định hướng của NHNN. Tuy nhiên về mặt chỉ số cụ thể tín dụng trong hai năm gần đây đều tăng thấp hơn so với định hướng đề ra, như năm 2018 đầu năm NHNN định hướng toàn hệ thống tăng 17% nhưng đến cuối năm tăng gần 14%.

Ở góc nhìn quản lý đây là xu hướng tích cực xuất phát từ hai yếu tố chính, vốn tín dụng cùng với các nguồn vốn khác trong nền kinh tế, như vốn qua thị trường chứng khoán, vốn của doanh nghiệp, vốn cá nhân, vốn ngân sách… vừa qua đã được khai thác và sử dụng hiệu quả, điều này đã giảm áp lực lên vốn tín dụng ngân hàng.

Song, vốn tín dụng ngân hàng đã chuyển dịch theo ngành, lĩnh vực kinh tế, phù hợp với xu hướng tăng trưởng kinh tế thành phố. Đồng thời mở rộng tín dụng vào các ngành chế biến và chế tạo, dịch vụ... đây là những ngành có động lực cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới. Trong đó, một điểm đáng lưu ý là vòng tuần hoàn tín dụng trong năm qua đã nhanh hơn các năm trước đó.

Theo thống kê của các NHTM, tín dụng trong năm 2018 tăng thấp nhưng doanh số cho vay của các NHTM lại tăng cao. Ví dụ, một đồng vốn cho vay ra của BIDV năm 2017 quay được 3 vòng thì năm 2018 cũng một đồng vốn cho vay ra đã quay được 4 vòng, điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn tín dụng đang tăng lên.

Năm 2019, NHNN Việt Nam định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%, tín dụng tăng khoảng 14%, ông đánh giá như thế nào?

Chỉ số này theo tôi hoàn toàn hợp lý, nó vừa dựa trên kết quả tăng trưởng tín dụng trong năm 2018 vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong năm 2019 lấy ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, cũng như các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ. Đặc biệt là các giải pháp về củng cố xây dựng nền tảng vững chắc ổn định kinh tế vĩ mô.

 Xin cảm ơn ông!

Đình Hải (thực hiện)

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.440 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.460 23.640 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.425 23.615 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.630 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.450 23.620 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.435 23.620 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.460 23.620 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.500 23.610 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.200
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.200
48.200
Vàng SJC 5c
47.200
48.220
Vàng nhẫn 9999
44.600
45.800
Vàng nữ trang 9999
44.300
45.600