WB cảnh báo nguy cơ khi các nước đồng loạt tăng lãi suất

14:50 | 26/09/2022

Một số ý kiến bày tỏ quan ngại, cho rằng việc tăng lãi suất trên diện rộng mà thiếu sự phối hợp và tính toán các tác động tới nhu cầu toàn cầu có thể dẫn tới các tổn hại không đáng có cho nền kinh tế.

wb canh bao nguy co khi cac nuoc dong loat tang lai suat

Theo tờ Wall Street Journal ngày 25/9, Ngân hàng Thế giới (WB) cảnh báo việc ngân hàng trung ương các nước đồng loạt tăng lãi suất sẽ tạo thêm nhiều rủi ro cho nền kinh tế.

WB mới đây đã đưa ra dữ liệu về số lần tăng lãi suất do các ngân hàng trung ương trên thế giới công bố đã ở mức cao nhất kể từ năm 1970.

Tuần trước Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã lần thứ ba liên tiếp trong năm nay tăng lãi suất thêm 0,75 điểm phần trăm. Các ngân hàng trung ương Indonesia, Na Uy, Phillipines, Nam Phi, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Anh... cũng đã đồng loạt đưa ra thông báo về việc tăng lãi suất.

Một số ý kiến bày tỏ quan ngại, cho rằng việc tăng lãi suất trên diện rộng mà thiếu sự phối hợp và tính toán các tác động tới nhu cầu toàn cầu có thể dẫn tới các tổn hại không đáng có cho nền kinh tế thế giới.

Việc ngân hàng trung ương của các nước cố gắng đưa ra các biện pháp riêng rẽ nhằm kiểm soát lạm phát trong nước một cách hiệu quả là điều cần thiết, song khả năng cao cũng sẽ đẩy nền kinh tế thế giới rơi vào một cuộc suy thoái sâu hơn mức cho phép.

Theo WB, các nước nên tham khảo cách các nền kinh tế tiên tiến đã cùng hạ giá đồng USD vào giai đoạn 1985-1987, từ đó có thể phối hợp thúc đẩy một biện pháp tăng lãi suất chung nhằm giảm thiểu các rủi ro cho nền kinh tế thế giới.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng Fed mới là cơ quan đóng vai trò động lực thúc đẩy việc tăng lãi suất trên quy mô toàn cầu. Do vậy theo các chuyên gia, Fed cần xem xét nghiêm túc tác động của các chu kỳ tăng lãi suất tại Mỹ đối với phần còn lại của thế giới.

Các nhà phân tích đã cảnh báo nguy cơ kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái. Chuyên gia Kathy Bostjancic thuộc công ty nghiên cứu kinh tế Oxford Economics cho rằng lạm phát sẽ tiếp tục là yếu tố chi phối chính sách tiền tệ, bất chấp rủi ro suy thoái gia tăng vào năm 2023.

Cụ thể, tình trạng lạm phát cao vẫn sẽ còn kéo dài, buộc Fed tiếp tục siết chặt chính sách tiền tệ. Biện pháp này kết hợp với tác động tiêu cực từ việc kinh tế toàn cầu suy yếu sẽ khiến kinh tế Mỹ gặp nguy cơ suy thoái nhẹ trong quý I/2023.

Theo kết quả khảo sát của tờ Financial Times, các nhà kinh tế học hàng đầu cho rằng nhiều khả năng Fed sẽ tăng lãi suất cơ bản lên trên 4% và duy trì mức này cho đến sau năm 2023 nhằm kiềm chế lạm phát.

68% những người được hỏi cho rằng áp lực giá cả giảm nhẹ, bất ổn trên thị trường tài chính và tình hình thị trường lao động xấu đi sẽ là những lý do khiến Fed tạm dừng thắt chặt chính sách tiền tệ. Nhưng rất khó để ngân hàng này giảm lãi suất trước năm 2024.

Ngoài ra, gần 70% trong số những nhà kinh tế tham gia cuộc khảo sát cho rằng Văn phòng Nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ có thể tuyên bố nước này rơi vào suy thoái kinh tế trong năm 2023. Dựa trên nhận định này, suy thoái kinh tế Mỹ có thể xảy ra trong quý I hoặc quý II/2023.

Giới phân tích nhận định Fed đang trong tình thế “tiến thoái lưỡng nan” khi họ vừa phải kiểm soát lạm phát vừa duy trì đà tăng trưởng. Điều này cho thấy những thách thức mà nền kinh tế Mỹ đang phải đối mặt.

Kiểm soát lạm phát đã trở thành mục tiêu chính sách hàng đầu của Mỹ trong giai đoạn hiện nay và lộ trình của Fed cho thấy tốc độ tăng lãi suất sẽ không sớm dừng lại.

Nguồn: TTXVN

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900