WB “điểm mặt” cơ hội phục hồi và thách thức của kinh tế Việt Nam

15:10 | 28/09/2021

Báo cáo cập nhật tình hình kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương kỳ mùa Thu năm 2021 vừa được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 28/9 cho thấy, tăng trưởng hầu hết các quốc gia trong khu vực đều bị hạ thấp. Theo đó, WB dự báo, tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể đạt khoảng 4,8% trong năm 2021 và phục hồi về tốc độ tăng trưởng GDP trước đại dịch ở mức 6,5 đến 7% từ năm 2022 trở đi.     

wb diem mat co hoi phuc hoi va thach thuc cua kinh te viet nam

WB cho biết, tính toán này dựa trên giả định là các biện pháp hạn chế đi lại sẽ giúp kiểm soát lây nhiễm thành công vào cuối quý III, để nền kinh tế bật lại vào quý IV/2021.

Sự phục hồi kinh tế toàn cầu được duy trì sẽ đảm bảo nhu cầu mạnh mẽ đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ở những thị trường xuất khẩu chủ lực (Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc).

Quá trình phục hồi cũng sẽ được hỗ trợ bằng chiến dịch tiêm chủng diện rộng giúp 70% dân số trưởng thành được tiêm vaccine vào giữa năm 2022, giúp ngăn ngừa các đợt dịch nghiêm trọng mới.

Tuy nhiên, dự báo trên sẽ còn phụ thuộc vào những rủi ro theo hướng suy giảm, bao gồm dịch bùng phát kéo dài, gây gián đoạn hoạt động kinh tế.

Quá trình phục hồi “chệch đường ray” vì Covid-19

Phân tích riêng về tình hình kinh tế Việt Nam, Báo cáo của WB nhận định, Việt Nam phải đối mặt với đợt dịch Covid-19 bùng phát nghiêm trọng trong nước. Đợt dịch từ tháng 4/2021 đã lây lan ra hầu hết các tỉnh thành và chưa có dấu hiệu được kiểm soát.

Đến giữa tháng 9, có trên 600.000 ca nhiễm và trên 15.000 ca tử vong đã được ghi nhận, và khoảng 5% dân số đã được tiêm vaccine đầy đủ. Sau khi tăng trưởng tương đối vững chắc trong nửa đầu năm, các biện pháp hạn chế ngày càng nghiêm ngặt khiến cho quá trình phục hồi bị chệch đường ray.

Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng 5,6% trong nửa đầu năm 2021, trong đó khu vực công nghiệp đạt tăng trưởng như tốc độ trước đại dịch (8% so cùng kỳ năm trước), và tăng trưởng ngành dịch vụ bằng khoảng một nửa tốc độ trước đại dịch.

“Việt Nam duy trì được vị thế kinh tế đối ngoại tích cực, với dự trữ ngoại hối cán mốc 100 tỷ USD, nhưng cán cân thương mại hàng hóa và cán cân vãng lai đều xấu đi trong nửa đầu năm. Các biện pháp giãn cách xã hội nghiêm ngặt hơn và tỷ lệ tiêm vaccine thấp đã ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế”, Báo cáo của WB bình luận.

Trong tháng 8, doanh số bán lẻ giảm 33,7% (so với cùng kỳ năm trước), còn chỉ số sản xuất công nghiệp giảm 7,4% (so với cùng kỳ năm trước).

WB cho rằng, đợt bùng phát dịch từ tháng 4 đã ảnh hưởng sâu đến đời sống hàng ngày của người lao động, doanh nghiệp và hộ gia đình mặc dù đã có các biện pháp chính sách nhằm giảm thiểu tác động. Ngay cả trước khi dịch bùng phát và trong điều kiện tương đối bình thường, 30% hộ gia đình cho biết bị giảm thu nhập trong tháng 3/2021 so với tháng 3/2020.

Cách ly xã hội kéo dài và doanh nghiệp phải đóng cửa sẽ khiến điều kiện sống của các hộ gia đình trở nên xấu hơn, nhất là đối với lao động ở khu vực phi chính thức. Đến 81% số hộ gia đình (21 triệu hộ năm 2018) có ít nhất một người làm việc ở khu vực phi chính thức. Chỉ có 27% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội trong năm 2019.

Chính phủ đã công bố gói hỗ trợ lần hai với quy mô khiêm tốn 26.000 tỷ VND (1,1 tỷ USD) vào tháng 7/2021 nhằm hỗ trợ bằng tiền cho người lao động bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, theo WB, tác động của gói hỗ trợ này sẽ phụ thuộc nhiều vào quá trình triển khai thực hiện ở các địa phương.

Những thách thức chính

“Nền kinh tế phải đối mặt với rủi ro trong nước tăng cao. Việc cung cấp các hỗ trợ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của các hộ gia đình ở khu vực đô thị có mật độ cao sẽ trở thành thách thức ngày càng lớn nếu phải tiếp tục kéo dài hoặc mở rộng cách ly xã hội”, Báo cáo của WB chỉ rõ.

Tại khu vực Đông Nam Bộ (bao gồm TP. Hồ Chí Minh), 16,3% các hộ gia đình sinh sống ở các khu phố chật hẹp chưa đến 8m2 trên một người. Khả năng duy trì học tập cũng khác nhau, vì cơ bản chỉ có các trường học ở những khu đô thị lớn nhất mới có năng lực cho học sinh học trực tuyến.

wb diem mat co hoi phuc hoi va thach thuc cua kinh te viet nam

Theo WB, người nhập cư, phụ nữ (những người phải gánh vác trách nhiệm chăm sóc gia đình lớn hơn), người lao động ở khu vực phi chính thức và người nghèo là những đối tượng dễ bị tổn thương ít có khả năng ứng phó nhất. Gói hỗ trợ an sinh xã hội đầu tiên ban hành vào tháng 7/2020 chỉ đến tay một số lượng hạn chế người dân. Bất bình đẳng dự kiến sẽ gia tăng.

Ngoài ra, khu vực tài chính có thể phải đối mặt với rủi ro nợ xấu ngày càng cao, và các cơ quan điều hành chính sách tiền tệ sẽ cần tiếp tục thận trọng, nhất là với những ngân hàng có tỷ lệ an toàn vốn thấp từ trước đại dịch. Mặc dù rủi ro tài khóa hiện không lớn và nợ công vẫn ở mức bền vững, nhưng vẫn phải tiếp tục thận trọng, kể cả với các khoản nợ tiềm tàng có thể phát sinh từ phía các doanh nghiệp nhà nước.

Nền kinh tế cũng phải đối mặt với những rủi ro có thể xảy ra từ bên ngoài. Mặc dù các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU có vẻ đang trên đà phục hồi, nhưng quá trình phục hồi còn gặp nhiều bất định liên quan đến sự xuất hiện của biến chủng Covid-19 mới và tiến độ tiêm vaccine chưa đồng đều trên toàn cầu.

Ngoài ra, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đang phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng tăng từ các quốc gia có các hoạt động sản xuất đang bật dậy mạnh mẽ hơn.

Một số khuyến nghị

Về chính sách tiền tệ, tài khóa và xã hội, WB cho rằng, trong thời gian còn lại của năm 2021, chính sách tiền tệ được kỳ vọng vẫn sẽ nới lỏng thông qua triển khai thực hiện một số công cụ chính sách tiền tệ và cho phép doanh nghiệp được gia hạn thời hạn trả nợ. Chính sách tài khóa sẽ mang tính hỗ trợ hơn thông qua đẩy nhanh triển khai thực hiện các dự án đầu tư công, đặc biệt sau khi gỡ bỏ các biện pháp hạn chế đi lại.

Bên cạnh gói hỗ trợ đảm bảo xã hội đợt hai, Chính phủ đang cân nhắc một gói hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp. Với dư địa tài khóa hiện có, Chính phủ cần tiếp tục triển khai các nguồn lực để giảm thiểu tác động xã hội bất lợi và phòng ngừa những rủi ro tiêu cực đối với tăng trưởng, nhất là nếu những rủi ro đó gia tăng.

“Trong thời gian tới, các cấp có thẩm quyền cần theo đuổi mục tiêu tăng trưởng xanh và số hóa nhằm nâng cao khả năng chống chịu và tính bền vững của nền kinh tế. Trong lúc số ca nhiễm mới vẫn ở mức cao, đòi hỏi phải thực hiện các biện giáp giãn cách xã hội, thu nhập của người lao động tiếp tục bị ảnh hưởng nặng nề. Chính phủ cần tăng mức hỗ trợ và cải thiện quá trình triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ bằng tiền để tiếp cận nhiều hơn những hộ gia đình, người lao động ở khu vực phi chính thức, và những người bị ảnh hưởng nhưng không có tên trong các cơ sở dữ liệu trợ giúp xã hội hiện hành”, Báo cáo khuyến nghị

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.030 23.340 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.070 23.350 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.040 23.340 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.050 23.330 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.080 23.300 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.090 23.300 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.058 23.550 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.054 23.345 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.345 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.110 23.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.000
69.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.000
69.000
Vàng SJC 5c
68.000
69.020
Vàng nhẫn 9999
54.150
55.150
Vàng nữ trang 9999
53.950
54.750