WB: Kinh tế Việt Nam đang dần phục hồi

17:10 | 12/11/2021

Ngày 12-11, Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam đã công bố báo cáo “Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam” tháng 11/2021, trong đó khẳng định kinh tế nước ta đã vượt qua đáy suy giảm kinh tế vào tháng 10 và dần khởi sắc.

wb kinh te viet nam dang dan phuc hoi

Báo cáo ghi nhận, Việt Nam đã đối mặt hàng loạt thách thức khi khởi động lại nền kinh tế sau một thời gian dài giãn cách xã hội. Tuy nhiên, trong tháng 10, chỉ số sản xuất công nghiệp (tăng 6,9% so với tháng 9), tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (tăng 19,1% so với tháng 9) đều đã khởi sắc nhờ hoạt động kinh tế từng bước được khôi phục, tuy chưa bằng mức trước đợt bùng phát (tháng 4-2021).

Với  những diễn biến tích cực được quan sát trong tháng 10 cho thấy tình hình kinh tế sẽ tiếp tục cải thiện và tăng trưởng được đẩy mạnh trong những tháng tới.

Tình hình kinh tế cải thiện, tăng trưởng được đẩy mạnh

Theo đó, tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng từ 4,4% (so với tháng trước) trong tháng 9 lên 18,1% (so với tháng trước) trong tháng 10 nhờ nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội.

Tuy nhiên WB nhấn mạnh, chặng đường phục hồi vẫn còn dài khi mà tổng doanh thu vẫn thấp hơn 19,5% so với cùng kỳ năm trước.

Ngoài ra, tháng 10 là tháng thứ hai liên tiếp cán cân thương mại thặng dư. Thống kê cho thấy, thặng dư thương mại đạt 2,85 tỷ USD trong tháng 10. Tính chung 10 tháng đầu năm Việt Nam xuất siêu 160 triệu USD.

“Kết quả tăng trưởng xuất khẩu thể hiện những thách thức trong việc khởi động lại các nhà máy sản xuất ở một số ngành sau thời gian dài thực hiện giãn cách xã hội ở các tỉnh phía Nam, trong đó có thiếu nguyên liệu và lao động”, WB nhấn mạnh.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10 tăng 6,9% so với tháng trước.Sự phục hồi này phần lớn nhờ hoạt động sản xuất tại Thành phố Hồ Chí Minh và các trung tâm công nghiệp lân cận được khôi phục.

Trong khi chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đã tăng vọt từ 40,2 trong tháng 9 lên 52,1 vào tháng 10, lần đầu tiên vượt ngưỡng trung tính 50.0 trong 5 tháng, cho thấy điều kiện kinh tế được cải thiện đáng kể.

Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước tháng 10 ghi nhận thặng dư sau 2 tháng thâm hụt. Cụ thể, cân đối thu, chi ngân sách nhà nước thặng dư 28.000 tỷ đồng (1,2 tỷ USD) trong tháng 10. Tính chung trong 10 tháng đầu năm, ngân sách thặng dư 74.900 tỷ đồng.

Trong khi đó, các đối khác của nền kinh tế được duy trì ổn định như lạm phát giảm nhẹ mặc dù giá nhiên liệu tăng. Chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân 10 tháng năm 2021 tăng 1,81% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016. Lạm phát cơ bản bình quân 10 tháng năm nay tăng 0,84% so với cùng kỳ năm 2020.

Tăng trưởng tín dụng ổn định

Theo báo cáo, tình hình tăng trưởng tín dụng ổn định sau một thời gian ngắn giảm tốc nhờ nền kinh tế đang phục hồi.

Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế tăng 14,2% (so với cùng kỳ năm trước) trong tháng 10, tương đương với tốc độ của tháng 9. Điều này phản ánh sự phục hồi của các hoạt động kinh tế đang diễn ra sau đợt bùng phát dịch lần thứ tư, đặc biệt là trong các ngành dịch vụ.

Theo đó, tăng trưởng tín dụng đối với khu vực dịch vụ (chiếm hơn 60% tổng tín dụng đối với nền kinh tế) đã ổn định ở mức 15,6% (so với cùng kỳ năm trước) trong tháng 10 sau khi giảm liên tục từ mức 18,3% trong tháng 5. Tín dụng đối với ngành công nghiệp và xây dựng giữ nguyên ở tốc độ tăng trưởng khoảng 12,7% (so với cùng kỳ năm trước) kể từ tháng 7/2021, nhưng vẫn cao hơn so với trước đại dịch.

Với nhu cầu tín dụng đang phục hồi, lãi suất qua đêm liên ngân hàng chững lại ở mức bình quân 0,65%, tương tự như mức ghi nhận vào tháng 9, chấm dứt xu hướng giảm bắt đầu từ tháng 7/2021.

Trong bối cảnh đó, WB khuyến nghị Việt Nam cần chú trọng tới 3 hướng hành động chính trong tiến trình mở cửa trở lại và phục hồi nền kinh tế.

Thứ nhất, về mặt y tế, việc tiếp tục triển khai tiêm vắc xin nhanh chóng; kết hợp cảnh giác thông qua các biện pháp xét nghiệm và cách ly trong bối cảnh số ca nhiễm sẽ gia tăng song song với sự gia tăng mức độ di chuyển và tiếp xúc.

Thứ hai, thực thi chính sách tài khóa chủ động hơn sẽ hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế. Cuối cùng, các cơ quan chức năng cần tiếp tục giám sát chặt chẽ trạng thái của khu vực tài chính, trợ giúp xã hội cho những đối tượng gặp khó khăn.

“Gói giảm thuế GTGT trong tháng 11 và tháng 12/2021 cho các doanh nghiệp dịch vụ vận tải, du lịch, lưu trú, ăn uống và giải trí đã được thông qua, và được kỳ vọng sẽ giúp thúc đẩy nhu cầu nội địa trong các ngành này”, WB dự báo.

Dù tăng chậm sau 10 tháng nhưng WB khuyến nghị lạm phát cũng cần được theo dõi vì nhu cầu trong nước phục hồi trong bối cảnh giá năng lượng trên thế giới tăng có thể gây ra áp lực tăng giá.

 

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.220 23.530 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.250 23.530 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.230 23.530 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.240 23.525 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.270 23.500 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.800 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.260 23.750 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.246 23.532 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.230 23.530 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.290 23.540 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.350
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.250
52.850