WB lạc quan về kinh tế Việt Nam

11:08 | 10/08/2022

Báo cáo Điểm lại tháng 8 của WB ngày 8/8 đã điều chỉnh nâng triển vọng năm nay lên 7,5%, tăng mạnh so với mức 5,8% trong dự báo tháng 6/2022. Thế nhưng điều đó không quá ngạc nhiên với những diễn biến kinh tế tích cực đạt được trong 6 tháng vừa qua.

wb lac quan ve kinh te viet nam Chuyển đổi số cần thực chất, hiệu quả, góp phần quan trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập
wb lac quan ve kinh te viet nam Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả
wb lac quan ve kinh te viet nam Thủ tướng kêu gọi các ngân hàng tiếp tục chia sẻ khó khăn cùng DN, người dân và nền kinh tế

Triển vọng tăng lên

“Nền kinh tế Việt Nam phục hồi mạnh mẽ trong nửa đầu năm 2022 bất chấp tác động của các cú sốc cung liên quan đến cuộc chiến tại Ukraine và các biện pháp kiểm soát dịch tại Trung Quốc”, Báo cáo Điểm lại tháng 8 của WB cho biết. Trong khi cú sốc nguồn cung (năng lượng, lương thực thực phẩm…) và sự gián đoạn tiếp tục của các chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) dự báo sẽ vừa làm chậm quá trình phục hồi kinh tế ở nhiều quốc gia, vừa đẩy lạm phát tăng cao (trên 75% các nền kinh tế phát triển và đang phát triển ghi nhận lạm phát đã vượt mục tiêu đặt ra) thì kinh tế Việt Nam đã bắt đầu cho thấy sự phục hồi trở lại từ quý IV/2021, tiếp đà trong quý I/2022 và đặc biệt tăng mạnh trong quý II/2022, qua đó giúp đạt được tăng trưởng 6,4% trong nửa đầu năm 2022. Trong khi đó, lạm phát dù cũng tăng lên (CPI tăng từ 1,8% tháng 12/2021 lên 3,4% trong tháng 6/2022), nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 4% đặt ra.

Phân tích cụ thể hơn, Báo cáo của WB cho biết, trong khi khu vực nông, lâm, ngư nghiệp và khu vực công nghiệp duy trì được tăng trưởng ổn định thì khu vực dịch vụ có sự phục hồi mạnh mẽ trong bối cảnh nhu cầu dồn nén đối với các dịch vụ tiêu dùng được giải phóng. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ công thấp so với trần nợ công trung hạn; DN phục hồi; lao động phục hồi; khu vực kinh tế đối ngoại tiếp tục thể hiện khả năng chống chịu; khu vực dịch vụ dự kiến sẽ phục hồi mạnh hơn nữa… là các cơ sở để các chuyên gia WB tin tưởng triển vọng ngắn và trung hạn của Việt Nam là tích cực.

wb lac quan ve kinh te viet nam
Khu vực công nghiệp vẫn duy trì được đà tăng trưởng ổn định

“Nền kinh tế Việt Nam đến nay vẫn tương đối vững vàng và đang phục hồi mạnh mẽ sau đợt suy giảm do COVID-19 gây ra vào năm ngoái. Tăng trưởng GDP đạt 6,4% trong nửa đầu năm 2022 và chúng tôi dự kiến tăng trưởng vẫn khả quan từ nay đến cuối năm cũng như trong năm 2023”, bà Carolyn Turk - Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam cho biết.

Cụ thể hơn, bà Dorsati Madani - Chuyên gia kinh tế cao cấp của WB cho biết, theo kịch bản cơ sở, GDP dự kiến sẽ tăng trưởng 7,5% trong năm 2022 và đạt mức 6,7% trong năm 2023 khi các hoạt động kinh tế tiếp tục quay lại trạng thái bình thường. Các động lực tăng trưởng dự kiến sẽ hướng chuyển từ dựa vào nhu cầu bên ngoài sang dựa vào nhu cầu trong nước, từ khu vực chế tạo chế biến sang khu vực dịch vụ.

Tuy nhiên bà Carolyn Turk cũng lưu ý, Việt Nam hiện phải đối mặt với các rủi ro gia tăng, bao gồm áp lực lạm phát tăng, nguồn cung của các GVC tiếp tục bị gián đoạn, tình trạng thiếu hụt lao động hay các đợt bùng phát mới của đại dịch COVID… “Những yếu tố như vậy có thể cản trở phục hồi cả trong nước và trên thế giới. Nếu các nền kinh tế lớn và các thị trường xuất khẩu chủ lực như Hoa Kỳ, khu vực đồng Euro và Trung Quốc suy giảm mạnh hơn so với dự kiến hiện nay, xuất khẩu của Việt Nam có thể tiếp tục bị ảnh hưởng”, bà Carolyn Turk cảnh báo.

Không có nghĩa rủi ro giảm đi

Bên cạnh những yếu tố bất định hơn từ bên ngoài có thể tác động tới Việt Nam và ảnh hưởng đến triển vọng dự báo theo kịch bản cơ sở trên, các chuyên gia WB cũng chỉ ra những rủi ro và thách thức nhìn từ trong nước. Theo đó, dịch COVID-19 nếu phức tạp trở lại có thể ảnh hưởng đến quá trình phục hồi, nhất là trong các lĩnh vực dịch vụ. Hay như tình trạng thiếu hụt lao động có thể ảnh hưởng đến khả năng phục hồi đầy đủ. Trong khi rủi ro tài chính có thể tăng lên khi nhìn vào những yếu kém trên bảng cân đối tài sản của khu vực doanh nghiệp, ngân hàng và hộ gia đình và điều này có thể kéo theo ảnh hưởng đến quá trình phục hồi của đầu tư và tiêu dùng trong nước…

wb lac quan ve kinh te viet nam

Đặc biệt là rủi ro lạm phát vẫn hiện hữu mặc dù WB dự báo lạm phát bình quân chỉ vào khoảng 3,8% trong năm nay. Lạm phát gia tăng cho đến nay dường như chủ yếu do các yếu tố cung bên ngoài, nhưng việc giá cả tăng lên liên tục có thể khiến cho kỳ vọng lạm phát tăng cao, gây áp lực đến xáo trộn về mức lương danh nghĩa và chi phí sản xuất. Nhìn từ góc độ cầu, nhu cầu tiêu dùng tiếp tục phục hồi có thể làm tăng áp lực lên giá cả. Và khi lạm phát kéo dài và cao hơn dự kiến sẽ tác động trở lại, làm suy giảm quá trình phục hồi, nhất là về đầu tư và tiêu dùng tư nhân.

Trong bối cảnh đó, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam phải đối mặt với nhiệm vụ khó khăn là làm sao cân bằng giữa nhu cầu tiếp tục chính sách hỗ trợ để củng cố quá trình phục hồi với nhu cầu kiềm chế lạm phát và rủi ro tài chính đang phát sinh. Các chính sách vì vậy phải làm sao vừa tiếp tục thích ứng, hỗ trợ nhịp phục hồi, đồng thời phải thận trọng với lạm phát và rủi ro tài chính.

Theo WB, trong điều kiện quá trình phục hồi trong nước chưa hoàn tất và nhu cầu trên toàn cầu được dự báo sẽ yếu đi, chính sách tài khóa mang tính hỗ trợ là cách để phòng ngừa rủi ro cho tăng trưởng kinh tế. Trong ngắn hạn, trọng tâm là phải thực hiện đầy đủ Chương trình hỗ trợ phục hồi thông qua đẩy mạnh triển khai các dự án, để vừa giúp đẩy mạnh quá trình phục hồi cầu trong nước trong ngắn hạn, vừa nâng cao tốc độ tăng trưởng tiềm năng trong dài hạn. Bên cạnh đó, mở rộng mạng lưới an sinh xã hội có mục tiêu là hướng đi không chỉ giúp các hộ nghèo và dễ tổn thương chống đỡ lại tác động của các cú sốc giá nhiên liệu và lạm phát gia tăng mà còn hạn chế được tác động đến tiêu dùng tư nhân hiệu quả hơn.

Trong khi đó, rủi ro lạm phát gia tăng đòi hỏi phải có chính sách tiền tệ (CSTT) linh hoạt hơn. Vì lạm phát cơ bản vẫn được kiểm soát và nền kinh tế vẫn nằm dưới mức tiềm năng, nên CSTT nới lỏng dường như vẫn phù hợp ở thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, nếu rủi ro lạm phát gia tăng trở thành hiện thực - khi lạm phát cơ bản tăng tốc và lạm phát toàn phần vượt chỉ tiêu 4% - NHNN cần sẵn sàng chuyển sang thắt chặt tiền tệ để kìm áp lực lạm phát bằng cách tăng lãi suất và thắt lại cung tiền. Các bước đó kết hợp với các biện pháp truyền thông rõ ràng và mang tính dự báo về quyết định CSTT là cách để giúp định hướng cho các thành viên thị trường, đồng thời đảm bảo neo giữ được kỳ vọng lạm phát.

Trong trung hạn, cải cách căn bản hơn nhằm tăng cường khung CSTT theo hướng áp dụng chỉ tiêu lạm phát là cách để nâng cao hiệu quả và tác động truyền dẫn của CSTT. Các bước liên quan có thể bao gồm mở rộng các công cụ hiện có để quản lý thanh khoản cũng như tăng cường các biện pháp an toàn vĩ mô. Bên cạnh đó, điều quan trọng là cần tăng cường chiều sâu những cải cách cơ cấu nhằm hỗ trợ cho tiềm năng tăng trưởng trong trung hạn, giúp cho nền kinh tế phát triển bao trùm hơn với khả năng chống chịu cao hơn.

Đỗ Lê

Nguồn:

Tags: Kinh tế WB

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.565 23.845 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.545 23.845 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.830 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.530 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.585 23.960 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.520 23.990 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.450
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
50.950