Xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ

08:37 | 02/11/2015

Thời gian qua có thể nói việc xử lý nợ xấu của ngành NH đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.

TS. Trương Văn Phước

Trong điều kiện không có sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách Nhà nước, cơ chế chính sách còn nhiều hạn chế, bất cập và nền kinh tế còn nhiều khó khăn, kết quả xử lý nợ xấu đạt được đến nay cho thấy sự cố gắng của hệ thống các TCTD và các giải pháp xử lý nợ xấu được triển khai quyết liệt, có hiệu quả. Đến cuối tháng 9/2015 tỷ lệ nợ xấu chỉ còn 2,9% tổng dư nợ.

Xung quanh vấn đề này, phóng viên TBNH đã trao đổi với TS. Trương Văn Phước, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.

Ông đánh giá thế nào về quá trình xử lý nợ xấu của ngành NH?

Sau một thời gian dài tăng trưởng tín dụng nhanh, do tác động khó khăn kinh tế ở trong nước và quốc tế, nợ xấu của các TCTD rất lớn và tăng nhanh, vì vậy đòi hỏi phải xử lý để lành mạnh hóa tài chính, khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế và bảo đảm an toàn hoạt động cho các TCTD.

Trong bối cảnh đó, năm 2013, việc NHNN xây dựng, trình Bộ Chính trị, Chính phủ Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” và Đề án “Thành lập Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam - VAMC” được đánh giá là kịp thời và mang tính quyết định trong việc giảm nhanh nợ xấu. Thực hiện 2 Đề án nêu trên, thời gian qua có thể nói việc xử lý nợ xấu của ngành NH đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Các giải pháp xử lý nợ xấu đều được phát huy tích cực và hiệu quả, bao gồm cả tăng cường trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro, bán nợ, cơ cấu lại nợ, xử lý tài sản bảo đảm, cơ cấu lại nợ, tiết giảm chi phí, hạn chế chia cổ tức, lợi nhuận để tạo nguồn xử lý nợ xấu...

Sau hơn 3 năm, “cục máu đông” của cả nền kinh tế đã tan dần. Nợ xấu từ mức 17,2% tổng dư nợ vào tháng 9/2012 đã giảm về còn 2,9% tổng dư nợ (tính tới cuối tháng 9/2015), tức là qui mô nợ xấu - cục máu đông - đã thu nhỏ gần 6 lần và hơn 98% số nợ xấu ước tính tại thời điểm tháng 9/2012 đã được xử lý (Đề án xử lý nợ xấu đặt ra mục tiêu xử lý cơ bản số nợ xấu tại thời điểm tháng 9/2012).

Con số này cho thấy, một khối lượng nợ xấu của các TCTD đã được xử lý, chất lượng tín dụng được cải thiện. Kết quả xử lý nợ xấu nói trên đã góp phần quan trọng cải thiện thanh khoản, giảm lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, từ đó hỗ trợ tích cực cho quá trình phục hồi sản xuất, kinh doanh của DN.

Giảm mạnh tỷ lệ nợ xấu như vậy, theo ông quá trình xử lý nợ xấu vừa qua do sự đóng góp của những giải pháp hiệu quả nào?

Cùng với việc tập trung xử lý nợ xấu, thời gian qua khung pháp lý cho hoạt động xử lý nợ xấu của các TCTD, VAMC cũng đã được tạo lập cơ bản và đồng bộ. Trước hết, khuôn khổ pháp lý về mua bán, xử lý nợ xấu thuộc phạm vi quản lý của NHNN được hoàn thiện như các văn bản quy định về thành lập, cơ cấu tổ chức và hoạt động của VAMC; quy định mới về mua, bán nợ của các TCTD; quy định về hoạt động xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của TCTD và VAMC.

Bên cạnh đó, NHNN đã ban hành hệ thống chính sách, quy định an toàn hệ thống NH, nhất là quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro theo hướng chặt chẽ, phù hợp hơn với các thông lệ, chuẩn mực quốc tế, phản ánh chính xác hơn, minh bạch hơn, đánh giá đúng và đầy đủ chất lượng hoạt động, nợ xấu của các TCTD, góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa, ngăn chặn nợ xấu gia tăng trong tương lai.

Có thể nói, các giải pháp xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ, chủ yếu bằng các giải pháp chủ động của ngành NH, không sử dụng tiền của ngân sách Nhà nước.

Tuy nhiên, quá trình xử lý nợ xấu của ngành NH còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu liên quan đến các quy định của pháp luật (liên quan đến quy định tại 6 bộ luật, luật và nhiều văn bản dưới luật), như quy định pháp luật còn thiếu, quy định không phù hợp với thực tiễn, quy định mâu thuẫn, chồng chéo nhau, các cơ quan, người có thẩm quyền hiểu và áp dụng pháp luật chưa thống nhất...

Đặc biệt là việc phát mại, xử lý tài sản bảo đảm, thi hành án còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc; thiếu cơ chế, chính sách của nhà nước hỗ trợ xử lý nợ xấu và thu hút sự tham gia của nhà đầu tư vào xử lý nợ xấu.

Trong thời gian tới, cần phải tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm, bảo đảm quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD, nhằm khắc phục các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của TCTD.

Cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để khắc phục các khó khăn, vướng mắc trong xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của TCTD

Nhìn lại cả tiến trình thực hiện đề án xử lý nợ xấu, có thể thấy thành công bước đầu đạt được có phần đóng góp không nhỏ của VAMC, thưa ông?

Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của các nước trên thế giới đều cho thấy, sử dụng tiền mặt để xử lý nợ xấu là giải pháp nhanh nhất (dùng tiền từ ngân sách Nhà nước hoặc vay nước ngoài). Tuy nhiên, với tâm lý xã hội không đồng thuận với quan điểm dùng ngân sách Nhà nước để xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD; cũng như thực tế ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, nguồn lực không cho phép chúng ta làm điều đó.

Vì vậy, việc ra đời VAMC với cách thức hoạt động đặc thù là giải pháp sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Sau hơn 2 năm hoạt động, VAMC đã giúp TCTD xử lý một khối lượng lớn nợ xấu, giúp NHTM có thể tiếp tục cho khách hàng vay vốn, tiếp tục vượt qua khó khăn, phục hồi khả năng tài chính trong lúc chờ đợi nền kinh tế phục hồi để xử lý tài sản, thu hồi nợ.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, với điều kiện như hiện nay (khuôn khổ pháp lý về xử lý nợ xấu còn bất cập; chưa có thị trường mua bán nợ phát triển; sản xuất kinh doanh chưa có sự phục hồi mạnh mẽ…), VAMC chưa thể trở thành giải pháp tối ưu để có thể xử lý nợ xấu một cách triệt để, bởi VAMC không thể tịch thu tài sản thế chấp của người vay để bán với giá thấp mà không có sự đồng thuận của khách hàng.

Hơn nữa, việc hạ giá thấp giá trị tài sản thế chấp sẽ gây ảnh hưởng và tổn hại không chỉ đối với các TCTD, khách hàng vay mà còn tổn hại đến nền kinh tế trong bối cảnh cầu về bất động sản còn yếu, giá bất động sản thấp. Dù vậy, vẫn cần khẳng định rằng, trong điều kiện đặc thù của Việt Nam, việc sử dụng VAMC làm công cụ xử lý nợ xấu trong thời gian qua là giải pháp thích hợp.

Xin cảm ơn ông!

Ngọc Quang thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.840 23.040 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.822 23.042 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.885 23.080 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.850 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.850 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.840 23.055 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.827 23.042 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.850 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.870 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.250
Vàng SJC 5c
56.550
57.270
Vàng nhẫn 9999
51.000
51.700
Vàng nữ trang 9999
50.700
51.400