Xuất khẩu của châu Á - bức tranh ảm đạm

12:00 | 24/04/2019

Số liệu thống kê thương mại mới nhất cho thấy tình hình xuất khẩu của các nền kinh tế châu Á đang đối diện với nhiều khó khăn

Theo tin từ Nikkei, Singapore đã công bố kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nội địa (không tính dầu thô) trong tháng 3 vừa qua giảm 11,7% so với cùng kỳ năm ngoái, mức sụt giảm tồi tệ nhất tính từ tháng 10/2016. Trong đó, xuất khẩu của Singapore sang phần lớn các đối tác thương mại lớn đều sụt giảm như sang Trung Quốc giảm 8,7% so với cùng kỳ năm trước; sang Đài Loan giảm 27,4%.

Sự suy giảm này có nguyên nhân trực tiếp từ xuất khẩu hàng điện tử sụt giảm, theo đó, xuất khẩu hàng điện tử của tháng 3/2019 giảm sâu nhất trong 6 năm với mức giảm 26,7% so với cùng kỳ.

Ảnh minh họa

Xuất khẩu của Nhật cũng sụt giảm trong tháng 3/2019. Bộ Tài chính Nhật công bố, xuất khẩu tháng 3/2019 của nước này giảm 2,4% so với cùng kỳ năm ngoái, cao hơn mức giảm 1,2% của tháng trước, trong đó mức giảm mạnh nhất là 9,4% được ghi nhận với thị trường Trung Quốc. Đặc biệt, xuất khẩu các sản phẩm điện tử vốn là thế mạnh của Nhật như hàng bán dẫn đã chững lại trong thời gian này.

Một số nền kinh tế châu Á khác như Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) cũng ghi nhận mức giảm về xuất khẩu tương đối lớn. Xuất khẩu của Hàn Quốc giảm 8,2% trong tháng 3/2019 và như vậy, đã là tháng giảm thứ 4 liên tiếp do nhu cầu với sản phẩm này sụt giảm. Xuất khẩu của Đài Loan trong tháng 3/2019 cũng sụt giảm tháng thứ 5 liên tiếp, trong đó các sản phẩm điện tử có mức giảm 4,4%.

Theo nhận định của các chuyên gia, các nước châu Á đang chật vật với tình trạng thương mại suy giảm từ cuối năm ngoái khi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc có những diễn biến phức tạp hơn. Hai cường quốc này đều là đối tác thương mại lớn của phần lớn các nước châu Á, đặc biệt đối với việc xuất khẩu các sản phẩm điện tử.

Ngoài ra, các nền kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang phụ thuộc nhiều vào việc bán sản phẩm hàng hóa và nguyên liệu sang Trung Quốc. Do đó tác động từ sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu mà một cuộc chiến tranh thương mại gây ra đang tạo ra những tác động đáng kể lên tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của các nền kinh tế châu Á trong những tháng gần đây.

Bên cạnh đó, việc tăng trưởng kinh tế thế giới chững lại trong những tháng đầu năm cũng đã tác động đáng kể đến cầu hàng hóa toàn cầu. Cụ thể, thống kê của JP Morgan cho thấy, các đơn hàng xuất khẩu mới đã ghi nhận tháng thứ 8 liên tiếp rơi vào tình trạng giảm mức tăng trưởng. Nó cho thấy những khó khăn trong nhu cầu đang có những ảnh hưởng mạnh đến hoạt động sản xuất và thương mại quốc tế.

Trong bối cảnh xuất khẩu gặp nhiều khó khăn như vậy, ngân hàng phát triển châu Á ADB nhận định tăng trưởng trong khu vực sẽ giảm nhẹ từ mức 5,9% năm 2018 xuống còn 5,7% trong năm 2019 và 5,6% trong năm 2020.

Thái Hồng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.577 25.700 29.749 30.378 204,34 213,67
BIDV 23.165 23.305 24.914 25.673 29.860 30.471 205,33 212,97
VietinBank 23.167 23.317 24.868 25.703 29.822 30.462 208,25 214,25
Agribank 23.185 23.290 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.873 25.239 29.954 30.394 209,62 212,70
ACB 23.170 23.300 24.902 25.255 30.044 30.394 209,53 212,51
Sacombank 23.139 23.301 24.905 25.360 30.004 30.411 209,01 213,57
Techcombank 23.150 23.310 24.642 25.604 29.613 30.562 207,89 214,68
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.290 24.900 25.230 29.950 29.950 206,10 211,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
44.650
45.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.650
45.500
Vàng SJC 5c
44.650
44.520
Vàng nhẫn 9999
44.650
45.150
Vàng nữ trang 9999
44.200
45.000