Xuất khẩu đối diện nhiều ẩn số

08:50 | 03/04/2020

Xuất khẩu đang đối diện với rất nhiều khó khăn kép. Song trong quý đầu tiên của năm 2020, kết quả đạt được vẫn khá tốt với cán cân thương mại thặng dư 2,8 tỷ USD, cao hơn so với mức thặng dư của cùng kỳ năm ngoái là 1,46 tỷ USD. Tuy nhiên kết quả này được đánh giá là khó duy trì đến cuối năm, khi thời điểm kết thúc dịch Covid-19 vẫn còn là ẩn số, khiến các thị trường xuất khẩu chủ lực khó có thể phục hồi nhanh.

Để xuất khẩu nông nghiệp phát triển bền vững
Tổng cục Hải quan nói gì về thông tin gây khó dễ khẩu trang xuất khẩu?
Rà soát toàn bộ hoạt động xuất khẩu gạo

Khó khăn hiện rõ

Theo Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2020 ước đạt 59,08 tỷ USD, chỉ tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2019, thấp hơn đáng kể so với mức tăng của cùng kỳ là 5,2%. Tăng trưởng xuất khẩu trong quý I/2020 đã đạt mức thấp nhất kể từ năm 2003 đến nay. Đây cũng là xu hướng chung của thương mại quốc tế và khu vực. Tuy nhiên điểm đáng mừng là kim ngạch xuất khẩu của khối DN trong nước duy trì được tốc độ tăng 8,7%, trong khi khu vực DN FDI giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước.

Ông Bùi Trọng Tú - Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê thương mại và dịch vụ đánh giá, trong quý I, xuất khẩu vẫn đang giữ được nhịp độ tăng trưởng so với cùng kỳ, dù tốc độ tăng đạt thấp nhưng cũng chưa giảm. Song khó khăn đã hiện rõ khi tỷ giá thương mại hàng hoá lần đầu tiên giảm trong 3 năm gần đây, phản ánh giá xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam ra nước ngoài không được thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài về Việt Nam.

Trong số 40 nhóm hàng xuất khẩu chính, có 15 nhóm hàng chỉ số giá giảm so với quý trước, trong đó giảm nhiều nhất là các nhóm dầu thô giảm 6,59%; xăng dầu các loại 4,12%; rau quả 3,17%; cà phê 2,55%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện 2,43%...

Ngành dệt may đối diện tình trạng huỷ đơn hàng

Ở chiều ngược lại cũng có một số mặt hàng xuất khẩu được hưởng lợi về giá trước tác động của dịch Covid-19. So với quý trước, quý I/2020 có 20 nhóm hàng xuất khẩu có chỉ số giá tăng, như sản phẩm từ cao su tăng 3,88% do nguồn cung trên thị trường thấp, nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên cho sản xuất găng tay cao su chống dịch Covid-19 tăng. Mặt hàng chè tăng 2,47% do ảnh hưởng của dịch khiến xuất khẩu chè của Trung Quốc bị gián đoạn, nhờ đó Việt Nam có cơ hội xuất khẩu mặt hàng này sang các thị trường như Trung Đông và châu Phi. Gạo xuất khẩu giá tăng 1,8% do thị trường thế giới tăng nhu cầu mua dự trữ lương thực trong thời gian dịch bệnh…

Kim ngạch xuất khẩu nhiều nhóm hàng chủ lực giảm, như dệt may, xuất khẩu xơ, sợi dệt các loại giảm 10,3% (cùng kỳ tăng 7,9%); hàng dệt và may mặc giảm 8,9% (cùng kỳ tăng 10,7%). Đối với da giày, xuất khẩu giày dép các loại giảm 1,9% (cùng kỳ năm 14%); túi xách, vali, mũ ô dù giảm 5,5% (cùng kỳ tăng 10,2%). Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện giảm 51,7% (cùng kỳ tăng 1,6%)…

Kim ngạch xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn cũng sụt giảm đáng kể hoặc tốc độ tăng trưởng chững lại nhanh, như Hàn Quốc giảm 2,7% (cùng kỳ tăng 6,9%); Nhật Bản tăng 3,5% (cùng kỳ tăng 7,6%); EU giảm 14,9% (cùng kỳ tăng 2,2%); Anh giảm 16,7% (cùng kỳ tăng 4,27%); Hoa Kỳ tăng 16,2% (cùng kỳ tăng 28,68%)…

Từng bước xoay chuyển thị trường

Sau giai đoạn 1 của dịch bệnh, đối với các mặt hàng công nghiệp chế biến, nguồn cung ứng nguyên liệu phục vụ sản xuất, xuất khẩu đều gặp khó khăn không chỉ đối với DN Việt Nam mà cho cả các nước khác khi đều phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu từ Trung Quốc. Đến nay, khi việc đứt gãy nguồn cung từ phía Trung Quốc cơ bản được giải quyết, song xuất khẩu Việt Nam hiện đang phải đối mặt với việc đứt gãy cầu khi dịch bệnh Covid-19 đã lan rộng sang các nước châu Âu và Hoa Kỳ.

Theo một chuyên gia của Bộ Công thương, các biện pháp kiểm soát dịch trên thực tế sẽ ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển hàng hoá từ khâu xuất khẩu, vận chuyển, thông quan, lưu kho, bốc dỡ cho đến tiêu thụ hàng hoá. Bên cạnh đó, do hàng loạt hệ thống bán lẻ tại châu Âu và Hoa Kỳ đóng cửa vì dịch, dẫn đến lượng cung cầu của thị trường, nhu cầu trao đổi hàng hoá, các hoạt động giao thương giữa EU với các đối tác trong đó có Việt Nam, cũng phần nào bị hạn chế. Nhu cầu mua sắm hàng hoá không quá thiết yếu như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện thoại… sẽ suy giảm. Ngoài việc xuất khẩu hàng hoá bằng đường biển gặp khó khăn, dự báo hàng hoá nhập khẩu vào các nước EU bằng đường hàng không cũng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. Ngoài ra, vận tải nội khối cũng ít nhiều bị ảnh hưởng do một số quốc gia siết quy định kiểm soát biên giới.

Ghi nhận từ phản ánh của nhiều DN thuộc các ngành hàng như dệt may, da giày, đồ gỗ… cho thấy, do nhu cầu suy giảm nên nhiều nhà nhập khẩu đã thông báo tạm dừng nhập khẩu các đơn hàng đã ký kết. Hàng loạt các nhà mua hàng lớn đã thông báo huỷ đơn hàng hoặc hoãn chưa phát lệnh sản xuất các đơn hàng tháng 4, tháng 5 và chưa đàm phán đơn hàng từ tháng 6.

Trong bối cảnh đó, giải pháp hàng đầu được Bộ Công thương đặt ra vẫn là từng bước tháo gỡ khó khăn và tìm kiếm các thị trường xuất khẩu thay thế. Hiện nay cả xuất khẩu và nhập khẩu ở thị trường Trung Quốc đều đang phục hồi nhờ dịch bệnh đã được kiểm soát. Bộ Công thương khuyến nghị các địa phương, DN cần liên hệ với đối tác Trung Quốc để đàm phán chuyển đổi sang hình thức xuất khẩu chính ngạch và chủ động áp dụng các biện pháp sẵn sàng chuyển đổi như thay đổi dán tem truy xuất nguồn gốc, bảo đảm an toàn thực phẩm…

Cùng với đó, cơ cấu lại thị trường xuất khẩu theo hướng đa dạng hoá thị trường, không phụ thuộc vào một thị trường, đáp ứng tiêu chuẩn cao về xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý. Trong đó, ưu tiên các mặt hàng bị ảnh hưởng trực tiếp do hạn chế nhập khẩu vào Trung Quốc, được cân nhắc và lựa chọn trên các tiêu chí về nhu cầu thị trường, ưu đãi của các FTA đã ký, quy định của nhà nhập khẩu, giá cả cạnh tranh…

Đối với thị trường EU, trước mắt vẫn là tập trung thúc đẩy tiến trình phê chuẩn và tổ chức thực thi EVFTA, để các DN có thể lập tức tận dụng ngay sau khi hiệp định này có hiệu lực. Đối với thị trường Hoa Kỳ, vấn đề quan trọng nhất là giải toả áp lực thương mại. Theo đó, cần gia tăng các mặt hàng của Mỹ trong giỏ hàng hoá nhập khẩu cũng như thu hút thêm các dòng đầu tư từ nước này để vừa hạn chế xuất siêu, vừa cải thiện cán cân thương mại với Hoa Kỳ.

Lan Hương

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.170 23.380 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.205 23.385 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.184 23.374 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.215 23.365 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.200 23.360 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.180 23.350 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.190 23.400 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.190 23.390 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.200 23.370 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.230 23.360 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.380
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.380
48.750
Vàng SJC 5c
48.380
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.730
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050