Xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi tăng mạnh

11:23 | 21/05/2021

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong quý I/2021, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi ước đạt 89 triệu USD, tăng 34,7% so với cùng kỳ năm 2020.

Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa ước đạt 25,5 triệu USD, tăng 27,8%; xuất khẩu thịt và sản phẩm thịt đạt 25,9 triệu USD, tăng 16,6%; xuất khẩu mật ong đạt 6,8 triệu USD, giảm 36,8%; xuất khẩu trứng các loại đạt 2,1 triệu USD, tăng 61,2%.

Trong quý I/2021, xuất khẩu thịt và sản phẩm thịt lợn chủ yếu sang Hong Kong (chiếm tới 99,6 và tăng 3,7 so với cùng kỳ năm trước). Xuất khẩu thịt gia cầm chủ yếu xuất khẩu sang thị trường châu Á (chiếm hơn 99,9 và tăng 3,7 so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất sang Hong Kong chiếm 64,5%, Trung Quốc chiếm 8,8%, Thái Lan chiếm 4,5%, hầu như chưa xuất khẩu được sang Nhật Bản). Xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa xuất khẩu chủ yếu sang thị trường châu Á (chiếm 94,6%). Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Irăc tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2020; xuất khẩu sang thị trường Campuchia đứng vị trí thứ hai tăng 108,7%; xuất khẩu sang Philippines tăng 9,5%; Thổ Nhĩ Kỳ tăng 23,1%; Mỹ tăng 128,9%.

xuat khau san pham chan nuoi tang manh
Ảnh minh họa

Bên cạnh đó, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi gặp phải một số khó khăn, vướng mắc về mặt sản xuất. Giá thức ăn chăn nuôi (TACN) tăng trong thời gian qua tăng liên tục. Cụ thể, trong quý I/2021 giá thức ăn hỗn hợp cho thịt lợn tăng 11,3% so với cùng kỳ; tăng 11,2% đối với thức ăn hỗn hợp cho gà thịt lông màu; tăng 7,5% đối với thức ăn hỗn hợp cho gà thịt lông trắng. Cục Chăn nuôi dự báo chưa có chiều hướng giảm ngay trong quý II/2021 do giá các nguyên liệu chính của TACN trên thế giới hiện vẫn trong tình trạng sản lượng không tăng kịp so với nhu cầu. Giá TACN tăng ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn cung do chi phí sản xuất tăng, người chăn nuôi không có lãi và thu hẹp sản xuất.

Ông Nguyễn Xuân Dương - quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, chi phí thức ăn tăng nên người sản xuất có xu hướng tiêu thụ sản phẩm ở trọng lượng nhỏ (bán lợn biểu nhỏ, đẩy mạnh xuất khẩu lợn sữa...), về lâu dài sẽ ảnh hưởng tới nguồn cung. Khi nguồn cung giảm cùng với chi phí sản xuất tăng sẽ dẫn tới giá tăng, ảnh hưởng trực tiếp tới chỉ số lạm phát và sức tiêu thụ của thị trường. Do ảnh hưởng của thời tiết vào mùa nóng lượng tiêu thụ thịt giảm và dịch Covid-19 dẫn tới việc cách ly, đóng cửa các chợ cóc, trường học, bếp ăn tập thể khiến cho lượng tiêu thụ các mặt hàng thịt giảm.

"Rủi ro đối với thị trường xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi không cao do tỷ trọng sản phẩm chăn nuôi xuất khẩu so với tiêu thụ tại thị trường nội địa rất nhỏ, sản phẩm chăn nuôi xuất khẩu hầu hết đều tăng trưởng tốt ở các thị trường chính. Riêng đối với sản phẩm mật ong xuất khẩu, rủi ro từ việc Hoa Kỳ có thể điều tra áp thuế chống bán phá giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này. Ngoài ra, tỷ giá USD/VND liên tục giảm thời gian qua cũng gây sức ép nhất định lên giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản nói chung và sản phẩm chăn nuôi nói riêng", ông Nguyễn Xuân Dương chia sẻ.

Để đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi, ông Nguyễn Xuân Dương cho rằng, các bộ, ngành và các địa phương tiếp tục triển khai thực hiện các biện pháp hỗ trợ khuyến khích đầu tư phát triển chăn nuôi theo chuỗi giá trị với mã định danh quốc gia cùng với truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đồng thời, xây dựng các tổ hợp chăn nuôi quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao với vai trò của doanh nghiệp làm trọng tâm trong liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Sản xuất theo chuỗi tuần hoàn, theo hướng hữu cơ truyền thống... Xây dựng thịt lợn, thịt và trứng gia cầm thành sản phẩm quốc gia.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các Bộ Ngoại giao, Bộ Công thương chuẩn bị các nội dung cho việc xử kiện chống bán phá giá sản phẩm ong mật của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ. Ngoài ra, đánh giá tiềm năng và thực trạng của ngành nuôi yến phù hợp với điều kiện tự nhiên, khả năng đầu tư và thị trường tiêu thụ yến sào. Xây dựng và phát triển yến sào thành sản phẩm quốc gia và phối hợp triển khai các giải pháp thúc đẩy nhanh vấn đề khai thông xuất khẩu chính ngạch sản phẩm tổ yến sang các thị trường tiềm năng, nhất là thị trường Trung Quốc.

Các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh TACN cần chủ động tìm kiếm và tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu TACN trong nước có thể thay thế được nguồn nhập khẩu để chế biến TACN, quản trị tốt nguồn nguyên liệu và giảm tối đa các chi phí sản xuất để hạ giá thành TACN thành phẩm.

Diệu Linh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.880 23.110 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.910 23.110 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.880 23.100 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.910 23.100 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.910 23.090 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.910 23.090 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.902 23.117 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.885 23.100 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.910 23.090 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.940 23.100 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.500
57.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.500
57.200
Vàng SJC 5c
56.500
57.220
Vàng nhẫn 9999
50.900
51.600
Vàng nữ trang 9999
50.600
51.300