Xuất khẩu sang thị trường EU chững lại

07:29 | 23/12/2019

DN xuất khẩu cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác với đối tác nước ngoài, từ đó tham gia dây chuyền cung ứng toàn cầu, dần chinh phục thị trường khó tính như EU.

Lại nhập siêu trong nửa đầu tháng 12, xấp xỉ 300 triệu USD
 Thép xuất khẩu sang Mỹ bị áp thuế tới 456% 
Sản xuất công nghiệp, xuất khẩu đều tăng trưởng khả quan

Ông Phạm Bình An, Giám đốc Trung tâm Hội nhập Quốc tế cho biết, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được ký kết thành công và chuẩn bị có hiệu lực sẽ mở ra một kỷ nguyên mới cho nền kinh tế Việt Nam. Có thể thấy, khi đó, DN Việt sẽ chính thức bước vào vòng xoáy của nền kinh tế mới với những cơ hội tiềm năng, song song với đó là những quy định và chuẩn mực khắt khe. Để gia nhập vào thị trường EU nhiều triển vọng nhưng cũng vô cùng khó tính, các DN Việt phải hiểu rõ tính chất, yêu cầu của đối tác cũng như nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh để mở rộng quy mô và tận dụng tối đa những lợi ích mà Hiệp định FTA thế hệ mới này mang lại.

Thời gian gần đây, các DN xuất khẩu phải đối mặt với nhiều thách thức như xu hướng bảo hộ thông qua quy định tiêu chuẩn kỹ thuật cao đối với hàng hóa nhập khẩu tại thị trường EU, những hạn chế, yếu kém nội tại về quy mô và năng lực sản xuất, sức ép cạnh tranh... Trong khi đó, năng lực tham gia thương mại quốc tế của DN Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt với các DNNVV.

DN xuất khẩu cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác dần chinh phục thị trường khó tính như EU

Theo bà Nguyễn Thảo Hiền, Phó vụ trưởng Vụ thị trường châu Âu, châu Mỹ, Bộ Công thương, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam vào thị trường Liên minh châu Âu (EU) đang có xu hướng chững lại. Tính đến tháng 11/2019, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá vào thị trường EU đã giảm 1,26% so với cùng kỳ năm 2018. Thống kê kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu chính vào thị trường EU cũng cho thấy sự sụt giảm. Trong đó điện thoại và linh kiện giảm 16%, cà phê giảm 16,3%, thuỷ hải sản gần 13%... Dự kiến trong năm 2019, xuất khẩu vào EU chỉ đạt khoảng 41,8 tỷ USD, giảm 3,6% so với năm 2018.

“Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU có xu hướng chậm lại là do thị trường này đã qua giai đoạn phát triển “nóng” suốt từ năm 2000 đến năm 2018. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, nếu DN Việt không nhanh chóng nâng cao năng lực sẽ có sự tụt hậu so với đối thủ cạnh tranh từ các nước khác. Trong khi đó, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam còn phụ thuộc vào các DN FDI, như linh kiện, điện thoại xuất khẩu chủ yếu do Samsung, Intel sản xuất; còn các mặt hàng nông sản chủ yếu là xuất khẩu thô bị tác động mạnh vào biến động của giá thị trường thế giới…” - bà Hiền phân tích.

Liên quan đến mặt hàng xuất khẩu chủ yếu vào thị trường EU, ông Trương Đình Hoè, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (Vasep) cho biết, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường EU trong năm 2019 dự kiến đạt khoảng 1,5 tỷ USD, thấp hơn 500 triệu USD so với kế hoạch ban đầu. Nguyên nhân là do ngành thủy sản chịu tác động của việc bị EU rút thẻ vàng do chưa tuân thủ các quy định của EC về việc đánh bắt cá trái phép. Ngoài ra, việc chậm thực thi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) cũng làm mất đi cơ hội tăng trưởng kim ngạch của ngành thủy sản.

Được biết, trong năm 2020, ngành thủy sản vẫn kiên trì theo đuổi mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 2 tỷ USD vào thị trường EU trong 10 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu chung của ngành thủy sản. Theo Bộ Công thương, EVFTA dự kiến có hiệu lực vào giữa năm 2020 sẽ xóa bỏ hơn 85% dòng thuế với hàng xuất khẩu của Việt Nam, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Số dòng thuế được xoá bỏ sau 7 năm hiệp định này có hiệu lực là hơn 99%, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Thực tế là hiện nay, EU hiện đang là thị trường xuất khẩu lớn thứ 2 và là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam trên thế giới với tăng trưởng thương mại giai đoạn 2000 - 2015 đạt 20% và giai đoạn 2015 - 2018 đạt 10%. Để giữ vững thị trường to lớn này, các DN cần chủ động nắm vững các cam kết của Việt Nam và EU trong EVFTA, tìm hiểu các quy định đối với hàng hóa xuất khẩu vào EU, cũng như chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh cho giai đoạn trung và dài hạn, nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng thương hiệu. Bên cạnh đó, DN xuất khẩu cần chủ động tìm kiếm cơ hội hợp tác với đối tác nước ngoài, từ đó tham gia dây chuyền cung ứng toàn cầu, dần chinh phục thị trường khó tính như EU.

“Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU có xu hướng chậm lại là do thị trường này đã qua giai đoạn phát triển “nóng” suốt từ năm 2000 đến năm 2018. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, nếu DN Việt không nhanh chóng nâng cao năng lực sẽ có sự tụt hậu so với đối thủ cạnh tranh từ các nước khác. Trong khi đó, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam còn phụ thuộc vào các DN FDI, như linh kiện, điện thoại xuất khẩu chủ yếu do Samsung, Intel sản xuất; còn các mặt hàng nông sản chủ yếu là xuất khẩu thô bị tác động mạnh vào biến động của giá thị trường thế giới…”

Phương Nam

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950