Xuất khẩu tiếp tục giảm, thủy sản tăng cường tiếp cận thị trường nội địa

16:30 | 02/07/2020

Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên thế giới đã tiếp tục ảnh hưởng đến ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong quý II/2020, theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP).

Cụ thể, sau khi giảm 16% trong tháng 5, đạt 639 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong tháng 6 tiếp tục giảm 10% trong tháng 6, ước đạt 626 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu thủy sản của cả nước ước đạt trên 3,5 tỷ USD, giảm 10% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong đó, mặt hàng có giá trị xuất khẩu giảm sâu nhất là cá tra giảm tới 31% so với cùng kỳ năm 2019; xuất khẩu cá ngừ và mực bạch tuộc cũng giảm 20% và các loại cá biển khác giảm nhẹ 2%; chỉ có tôm giữ được mức tăng khiêm tốn gần 3%.

xuat khau tiep tuc giam thuy san tang cuong thi truong noi dia
DN thủy sản tập trung phát triển thị trường trong nước vừa đẩy mạnh xuất khẩu

Theo VASEP, dịch Covid-19 bùng phát mạnh và diễn biến phức tạp trên toàn cầu ảnh hưởng đến ngành thủy sản thế giới, khiến cho tiêu thụ thủy sản giảm, đơn đặt hàng giảm 35 - 50%.

Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc, Hàn Quốc giảm mạnh trong 2 tháng đầu năm, còn từ tháng 3 khi dịch lắng xuống ở Trung Quốc và bùng phát ở các nước châu Âu và Mỹ khiến xuất khẩu sang những thị trường này bị ảnh hưởng mạnh.

Tính đến hết tháng 6, xuất khẩu thủy sản sang EU giảm sâu tới 35%, xuất khẩu sang Mỹ giảm 6%, sang ASEAN giảm 17%, Hàn Quốc giảm 9%, Trung Quốc giảm 3% và Nhật Bản giảm 5%. Chỉ có một vài thị trường tăng nhẹ nhập khẩu từ Việt Nam là Anh và Canada, nhưng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước.

VASEP nhận định, trong các tháng tới, ngành xuất khẩu thuỷ sản vẫn chưa có dấu hiệu lạc quan khi dịch Covid-19 vẫn có khả năng bùng phát lần 2 và tăng mạnh tại các thị trường lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc…

Tuy nhiên, VASEP cho rằng vẫn có những dấu hiệu lạc quan cho xuất khẩu khi doanh số bán lẻ trên thị trường thế giới vẫn ổn định hoặc tăng đối với thủy sản đông lạnh, đóng hộp, ướp và hun khói với thời hạn sử dụng lâu hơn.

Ngoài ra, hiệp định EVFTA có hiệu lực từ 1/8/2020 có thể sẽ là một “cú hích” cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong những tháng cuối năm, nhất là những mặt hàng được hưởng thuế về 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực, như tôm sú, tôm chân trắng đông lạnh, mực bạch tuộc chế biến, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và các sản phẩm có hạn ngạch miễn thuế như cá ngừ đóng hộp và surimi.

Theo dự báo, từ quý III/2020 trở đi ngành thủy sản mới có khả năng phục hồi. Chính vì vậy, để có thể khắc phục những khó khăn trước mắt, hầu hết các doanh nghiệp đã đưa ra giải pháp vừa tập trung phát triển thị trường tiêu thụ trong nước, vừa đẩy mạnh xuất khẩu.

Nhằm trợ giúp cho doanh nghiệp Việt chiếm lĩnh thị trường nội địa, VASEP đã lập ra Câu lạc bộ các doanh nghiệp cung cấp thủy sản cho thị trường nội địa với hàng chục thành viên là các nhà sản xuất và cung cấp mặt hàng thủy sản cho hệ thống siêu thị, các kênh phân phối tại thị trường Việt Nam.

Theo VASEP, giá trị tiêu thụ sản phẩm thủy hải sản của người tiêu dùng trong nước lên đến 22.000 tỷ đồng/năm (tương đương 1 tỷ USD) và mức tiêu thụ bình quân của người Việt Nam ước khoảng 35kg thủy hải sản/năm. Dự báo mức tiêu thụ này sẽ tăng đến 44kg/người/năm từ năm 2020 trở đi.

Hà An

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.076 23.266 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.076 23..286 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.068 23.268 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
57.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
57.050
Vàng SJC 5c
55.100
57.070
Vàng nhẫn 9999
52.200
54.100
Vàng nữ trang 9999
51.700
53.600