Xuất siêu cao góp phần ổn định kinh tế vĩ mô những tháng cuối năm

08:50 | 07/09/2022

Đại diện Bộ Công Thương nhận định tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm 2022 có thể tiệm cận con số 800 tỷ USD, duy trì được tỷ lệ xuất siêu của Quốc hội và Chính phủ đã đặt ra là 7-8%.

xuat sieu cao gop phan on dinh kinh te vi mo nhung thang cuoi nam

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa 8 tháng năm nay đạt gần 500 tỷ USD, trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt gần 251 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước đưa cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu khoảng 3,96 tỷ USD.

Với cơ cấu nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 89% hàng xuất khẩu và nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tới 94% hàng nhập khẩu trong 8 tháng qua, thực tế này được cho là “đòn bẩy” để đưa kim ngạch xuất khẩu tiếp tục tăng cao.

Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã có một số trao đổi với phóng viên, nhằm đánh giá chi tiết hơn về hoạt động thương mại của Việt Nam những tháng cuối năm.

- Tăng trưởng xuất khẩu tiếp tục đạt 2 con số. Xin ông cho biết đâu là nguyên nhân giúp chúng ta đạt được kết quả này?

Có thể thấy kết quả xuất nhập khẩu 8 tháng vừa qua rất khả quan khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước đạt xấp xỉ 500 tỷ USD và mức tăng trưởng ở mức 2 con số, xuất khẩu tăng 17,3 % và nhập khẩu tăng 13,6 %.

Thuận lợi lớn nhất là việc chúng ta cũng đã sớm mở cửa trở lại các hoạt động kinh tế từ quý 4/2021, trong đó, các ngành sản xuất, các ngành dịch vụ cũng đã tranh thủ đáp ứng các yêu cầu của thị trường thế giới trong nửa đầu năm để chúng ta đẩy mạnh xuất khẩu.

Bên cạnh đó là những thuận lợi từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã góp phần giúp cho chúng ta có được thị trường xuất khẩu một cách thuận lợi hơn.

Ví dụ như nhóm hàng như nông - thủy sản, rau, quả cũng đã tận dụng tốt được các lợi ích từ các hiệp định như vậy.

- Ông nhìn nhận như thế nào về mức xuất siêu gần 4 tỷ USD mà chúng ta đạt được trong bối cảnh hiện nay?

Cùng thời điểm này năm trước, cả nước đang nhập siêu hơn 3 tỷ USD thì tại thời điểm hiện nay xuất siêu đã quay trở lại, với thặng dư thương mại đạt gần 4 tỷ USD.

Đây cũng là một dấu hiệu rất tốt, đặc biệt trong bối cảnh thế giới có tác động ảnh hưởng khá rõ của việc suy thoái cũng như lạm phát tại một số thị trường lớn. Điều đó có thể làm cho những biến động về tỷ giá sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó là nhu cầu về tiêu dùng của những thị trường đó cũng có sự thắt chặt hơn.

Trong bối cảnh như vậy, việc chúng ta đạt được mức xuất siêu gần 4 tỷ USD trong 8 tháng cũng là một yếu tố rất tốt góp phần ổn định kinh tế vĩ mô cũng như là động lực để có thể đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu trong những tháng cuối năm.

-Nhiều dự báo kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2022 có khả năng đạt được 800 tỷ USD và tiếp tục có xuất siêu. Xin được hỏi góc nhìn của ông về dự báo này cũng như khả năng có thể đạt được?

Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay nhiều khả năng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả năm 2022 có thể tiệm cận đến con số 800 tỷ USD, cùng đó có thể duy trì được tỷ lệ xuất siêu của Quốc hội và Chính phủ đã đặt ra là 7-8%.

Tuy nhiên, để đạt được điều này thì cũng còn có nhiều các yếu tố tác động, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà những thách thức, rủi ro vẫn còn và có thể có tác động đến thị trường, đặc biệt là xung đột giữa Nga và Ukraine hiện nay cũng chưa chấm dứt… điều đó có thể làm đứt gãy chuỗi cung ứng và việc suy thoái của một số thị trường cũng ảnh hưởng đến nhu cầu và tác động đến hoạt động nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vào các thị trường này.

- Nhìn vào cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu, chúng ta thấy nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm tới gần 90% nhóm hàng xuất khẩu trong 8 tháng qua. Nhưng thời gian qua có nhiều doanh nghiệp kêu thiếu đơn hàng và khó khăn về nhân lực… Vậy đâu là thách thức lớn nhất trong những tháng cuối năm, đặc biệt là đối với nhóm hàng này, thưa ông?

Tại thời điểm này thì mức tăng trưởng của nhiều ngành hàng trong đó có dệt may là khá tốt. Đây cũng là một ngành đang kỳ vọng có những bứt phá và đạt được kim ngạch xuất khẩu khoảng 45 tỷ USD trong năm nay.

Tuy nhiên, thực tế chúng ta thấy rằng với tình trạng có thể suy thoái và lạm phát ở một số thị trường thì nhóm hàng về dệt may và nhóm hàng tiêu dùng nói chung là nhóm hàng mà có thể thuộc diện thắt chặt tiêu cũng như giảm bớt nhu cầu.

Hiện nay, đây là thách thức đối với ngành dệt may nói riêng và với nhiều ngành khác nữa. Ví dụ như ngành da giày, túi xách, đồ gỗ… đều có thể bị tác động ảnh hưởng.

Về vấn đề nhân lực, chúng ta cũng thấy sau thời kỳ COVID-19, nhiều doanh nghiệp cũng đã rất khó khăn trong việc tuyển dụng cũng như là mời công nhân trở lại làm việc. Do đó, việc duy trì nguồn nhân lực trong bối cảnh xuất khẩu lại gia tăng như thời gian vừa qua thực sự là thách thức đối với các doanh nghiệp.

Ngoài ra, có thể kể đến những yếu tố rủi ro khác, như vấn đề về thị trường, dịch bệnh, rồi sự đứt gãy trên thị trường nói chung thì cũng là những rủi do mà các doanh nghiệp của chúng ta cần phải lường trước, và phải có phương án để ứng phó.

Nhất là trong giai đoạn cuối năm - khi mà hoạt động xuất nhập khẩu được gia tăng, đẩy mạnh hơn trước. Bởi những biến động như vậy dễ tác động bất ngờ, gây ảnh hưởng tới kim ngạch xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.

- Vậy cơ quan quản lý nhà nước cần có các giải pháp như thế nào để hỗ trợ doanh nghiệp cũng như có thể đạt được các mục tiêu đã đề ra?

Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước hiện nay vẫn đang rất tích cực vào cuộc hỗ trợ cho các doanh nghiệp nói chung trong các ngành hàng.

Đơn cử, đối với lĩnh vực nông sản như tháo gỡ về những vướng mắc, đặc biệt là xuất khẩu qua biên giới Trung Quốc, thời gian vừa qua đã thực hiện và làm được cái đó rất là tốt; hay về việc mở cửa thị trường, về vấn đề về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm…

Đặc biệt là năm nay có hai sản phẩm là sầu riêng và chanh leo của Việt Nam được phía Trung Quốc mở cửa thị trường, đây là dấu hiệu cho thấy kết quả khả quan, giúp cho xuất khẩu trái cây của chúng ta, trong khi các mặt hàng khác như gạo, thủy sản, cà phê, hồ tiêu… cũng duy trì được tốc độ tăng trưởng tốt.

Về các mặt hàng công nghiệp, tác động của thị trường, của việc đứt gãy chuỗi cung ứng, rồi sự gia tăng chi phí logistics… trong thời gian vừa qua, đấy là những điều mà các doanh nghiệp cũng lo lắng.

Bộ Công Thương cũng đã chỉ đạo hệ thống các cơ quan thương vụ vào cuộc tích cực hỗ trợ cho các doanh nghiệp. Một mặt là khôi phục và kết nối các hoạt động xúc tiến thương mại truyền thống, thông qua các chương trình tham dự hội chợ, các đoàn giao thương…

Mặt khác là tích cực tìm kiếm thêm các đối tác, các bạn hàng mới để giúp cho doanh nghiệp của chúng ta có thể tận dụng tốt các FTA đã ký kết.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Nguồn: TTXVN

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.940 24.250 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.918 24.218 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.880 24.180 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.900 24.220 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.800 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.905 24.455 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.908 24.210 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.810 24.400 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.970 24.260 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.250
67.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.250
67.050
Vàng SJC 5c
66.250
67.070
Vàng nhẫn 9999
53.250
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.050
53.850