| Thúc đẩy kết nối cung - cầu sản phẩm kinh tế số Cơ hội đưa tài sản số vào nền kinh tế |
Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Lương Thu Hiền, Phó Viện trưởng Viện Quyền con người, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giới và quyền phụ nữ (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cho biết, chuyển đổi số hiện nay không còn là một quá trình mang tính kỹ thuật đơn thuần, mà đã trở thành một quá trình chuyển đổi mang tính cấu trúc, tác động sâu rộng tới tổ chức xã hội, phương thức quản trị và cách thức con người thực hiện, thụ hưởng các quyền cơ bản của mình. Công nghệ số mở ra nhiều cơ hội mới để thúc đẩy quyền con người, song cũng làm nảy sinh những thách thức, rủi ro và các dạng tổn thương mới, đặc biệt đối với các nhóm dân cư dễ bị tổn thương trong xã hội.
![]() |
| TS. Lương Thu Hiền, Phó Viện trưởng Viện Quyền con người phát biểu tại Hội thảo |
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã xác định chuyển đổi số là một nhiệm vụ chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể và là mục tiêu của phát triển. Việt Nam đồng thời là thành viên của nhiều điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người, qua đó khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người.
Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam chia sẻ, tại Việt Nam, mức độ ứng dụng công nghệ, đặc biệt là AI, gia tăng nhanh, đạt thứ hạng 6/40 quốc gia trong Bảng xếp hạng Chỉ số AI toàn cầu năm 2025. Công nghệ mới này đặc biệt phổ biến đối với trong nhóm người trẻ ở đô thị, đồng thời cũng được doanh nghiệp tích hợp trực tiếp vào chiến lược tổ chức chung của doanh nghiệp với tỷ lệ cao hơn mặt bằng khu vực. Bên cạnh đó, công nghệ số cũng đang tái định hình thị trường lao động: riêng tại Việt Nam, sự bao phủ rộng khắp của công nghiệp đẩy nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin tăng cao, có thể đạt tới 2 triệu người vào năm 2030, tập trung vào AI, dữ liệu lớn, an ninh mạng và internet vạn vật.
![]() |
| Ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam phát biểu tại Hội thảo |
Tuy nhiên, chính trong bối cảnh này Việt Nam cũng đang đối mặt với những thách thức mới như khoảng cách số giữa các vùng, các nhóm xã hội, nguy cơ bất bình đẳng số, rủi ro về quyền riêng tư, an toàn thông tin, cũng như tác động của truyền thông số đối với các giá trị văn hóa, xã hội và quyền con người, đặc biệt đối với người nghèo, người lao động phi chính thức, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo ông Nguyễn Minh Hồng, sự phát triển không ngừng của công nghệ số dẫn đến nhiều thách thức cốt lõi. Thứ nhất, công nghệ số, nổi bật là AI, vừa mở ra các cơ hội mới, vừa đặt ra những thách thức làm gia tăng bất bình đẳng và tác động bất lợi đến các nhóm lao động dễ bị tổn thương. Ví dụ, nghiên cứu của Carnegie China chỉ ra lao động trong nền kinh tế nền tảng, như tài xế công nghệ, là nhóm dễ bị tổn thương khi thu nhập và điều kiện làm việc phụ thuộc trực tiếp vào thuật toán phân bổ đơn hàng và mức chiết khấu. “Do thiếu bảo trợ xã hội và hạn chế cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp, họ thường rơi vào vị thế bất lợi khi các cơ chế này thay đổi. Đây chính là vấn đề về quyền lao động trên môi trường số mà chúng ta cần giải quyết bằng các chính sách quốc gia mang tính nhân văn” ông Nguyễn Minh Hồng nhận định.
Thách thức thứ hai là bảo đảm an toàn và quyền tham gia của người dân trên không gian số. Công nghệ số chỉ phát huy giá trị khi quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân và các quyền cơ bản của công dân được bảo vệ. Với các nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và đồng bào dân tộc thiểu số, môi trường số vừa mở ra cơ hội tiếp cận thông tin và dịch vụ, vừa tiềm ẩn rủi ro về lừa đảo, xâm phạm quyền riêng tư và hạn chế tiếp cận dịch vụ công số. Do đó, các cơ chế tham gia và tham vấn chính sách cần được thiết kế thực chất, dễ tiếp cận, minh bạch và có biện pháp bảo vệ phù hợp.
![]() |
| Ông Nguyễn Đức Lam Cố vấn Chính sách, Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) |
Từ bức tranh cơ hội và rủi ro đặt ra bởi công nghệ số, ông Nguyễn Đức Lam Cố vấn Chính sách, Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (IPS) cho rằng, Việt Nam cần tiếp cận theo hướng “công nghệ phục vụ con người, không phải con người phục vụ công nghệ”. Theo đó, các giải pháp chính sách phải đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa ba trụ cột then chốt gồm: bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia; thúc đẩy đổi mới sáng tạo; và bảo đảm quyền con người trong toàn bộ hành trình chuyển đổi số. Trọng tâm của cách tiếp cận này là lồng ghép quyền con người vào toàn bộ vòng đời của công nghệ, từ thiết kế, thử nghiệm đến vận hành, đặc biệt với các hệ thống trí tuệ nhân tạo rủi ro cao. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện khung pháp lý đóng vai trò thiết yếu, bao gồm chi tiết hóa Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Trí tuệ nhân tạo, mở rộng cơ chế bảo vệ dữ liệu sang cả khu vực nhà nước – nơi đang nắm giữ lượng dữ liệu cá nhân khổng lồ, đồng thời chính thức công nhận lao động nền tảng và thiết kế các chính sách an sinh phù hợp.
Một yêu cầu cấp bách khác là nâng cao năng lực số cho người dân. Điều này không chỉ dừng ở việc cung cấp thiết bị hay hạ tầng mà phải tập trung phát triển kỹ năng sử dụng công nghệ, kỹ năng an toàn số và khả năng tương tác hiệu quả trên môi trường trực tuyến, đặc biệt đối với nhóm dễ tổn thương. Cùng với đó, Việt Nam cần chuẩn bị năng lực thể chế để xử lý các tranh chấp mới nảy sinh trên không gian số. Hệ thống pháp luật và công cụ pháp lý phải được nâng cấp để có thể giải quyết hiệu quả tranh chấp liên quan đến dữ liệu, thuật toán, hợp đồng điện tử – những lĩnh vực được dự báo sẽ gia tăng mạnh trong thập niên tới.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/tan-dung-co-hoi-cong-nghe-so-cho-moi-nhom-dan-cu-176458.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2025 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.