Sự kiện do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chỉ đạo, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp với Viện Công nghệ và Đổi mới sáng tạo doanh nghiệp tổ chức, cùng sự hỗ trợ kỹ thuật từ các đối tác quốc tế, trong đó có Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT) thông qua Chương trình Aus4Growth.
![]() |
| Toàn cảnh diễn đàn |
Chuyển đổi xanh – “giấy thông hành” của doanh nghiệp
Phát biểu khai mạc, ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch VCCI nhấn mạnh, nền kinh tế toàn cầu đang bước vào một “bước ngoặt lịch sử”, trong đó chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị quốc tế.
Theo đó thị trường các-bon không chỉ là cơ chế định giá phát thải mà còn là “sân chơi” ghi nhận và tôn vinh những doanh nghiệp tiên phong trong đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ sạch. Mỗi tín chỉ các-bon được tạo ra không chỉ phản ánh nỗ lực giảm phát thải, mà còn là một loại tài sản có giá trị kinh tế thực tế, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp.
Theo ông Hoàng Quang Phòng, việc tham gia thị trường này mang lại nhiều lợi ích thiết thực: giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí vận hành thông qua tiết kiệm năng lượng; nâng cao uy tín, thương hiệu trên thị trường quốc tế; đồng thời mở ra cơ hội tiếp cận các nguồn tài chính xanh từ ngân hàng và các quỹ đầu tư lớn. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng, quá trình tham gia cần tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.
![]() |
| Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch VCCI phát biểu khai mạc |
Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm xây dựng hành lang pháp lý cho thị trường các-bon. Tiêu biểu là Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn; Nghị định 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung; cùng với Nghị định 232/2024/NĐ-CP về phát triển thị trường các-bon trong nước.
Tiếp đó, các quy định mới như Nghị định 29/2026/NĐ-CP về hình thành sàn giao dịch các-bon nội địa và Nghị định 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải đã tạo nền móng quan trọng để thị trường có thể vận hành đồng bộ.
Nhấn mạnh Việt Nam đã có hơn 10 năm chuẩn bị cho việc hình thành thị trường các-bon và chính thức triển khai từ năm 2020, ông Phạm Nam Hưng, đại diện Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, đây là một trong những công cụ quan trọng để thực hiện các cam kết quốc tế về khí hậu.
Theo ông, trong giai đoạn thí điểm hiện nay, việc đánh giá hiệu quả thị trường sẽ tập trung vào khả năng giảm phát thải, thu hút đầu tư và chất lượng tín chỉ các-bon. Một trong những vấn đề cốt lõi là đảm bảo tính minh bạch, độ tin cậy của tín chỉ, đồng thời bảo đảm dòng tài chính từ thị trường được tái đầu tư vào các dự án giảm phát thải trong nước.
Dự kiến, trong khoảng 4–5 tháng tới, các cơ quan chức năng sẽ tiến hành đánh giá bước đầu, làm cơ sở để hoàn thiện cơ chế vận hành chính thức, cũng như xem xét khả năng kết nối với thị trường các-bon quốc tế.
Hợp tác quốc tế – đòn bẩy thúc đẩy thị trường
Phát biểu tại sự kiện, bà Cecilia Brennan Tham tán Kinh tế, Đại sứ quán Australia, Đại diện Bộ Thương mại và Ngoại giao Australia đánh giá, Việt Nam đã đạt được những tiến triển đáng kể trong việc xây dựng nền tảng pháp lý và thể chế cho thị trường các-bon, và hiện đang bước vào giai đoạn triển khai – giai đoạn mang tính quyết định.
Theo bà, một hệ thống tín chỉ các-bon vận hành hiệu quả sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn lực tài chính, thúc đẩy giảm phát thải với chi phí hợp lý, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hỗ trợ mục tiêu phát triển bền vững.
![]() |
| Bà Cecilia Brennan, Tham tán Kinh tế, Đại sứ quán Australia, Đại diện Bộ Thương mại và Ngoại giao Australia chia sẻ tại diễn đàn |
Bà Cecilia Brennan cũng khẳng định, Australia, với tư cách là đối tác lâu dài của Việt Nam, đã và đang tích cực hỗ trợ thông qua nhiều chương trình hợp tác. Trong hơn 50 năm qua, Australia đã đóng góp hơn 3 tỷ AUD cho sự phát triển của Việt Nam, với trọng tâm là tăng trưởng bền vững và phát triển nguồn nhân lực.
Thông qua các sáng kiến như Chương trình Nền tảng Đối tác Doanh nghiệp (BPP) hay Quan hệ Đối tác Tài chính Khí hậu Australia (ACFP), nhiều mô hình thí điểm trong thị trường các-bon đã được triển khai, bao gồm các giải pháp dựa vào thiên nhiên và sản xuất lúa phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long. Các chương trình này không chỉ hỗ trợ kỹ thuật mà còn góp phần giảm thiểu rủi ro tài chính, thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân.
Có thể thấy, trong bối cảnh các tiêu chuẩn xanh ngày càng trở nên phổ biến, doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước cả áp lực và cơ hội. Việc tham gia thị trường các-bon không chỉ là nghĩa vụ môi trường mà còn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh trong dài hạn.
Chia sẻ tại Diễn đàn, PGS.TS Lương Đức Long - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) cho biết, ngành xi măng – một trong những ngành phát thải lớn – đang bước vào giai đoạn thí điểm hạn ngạch các-bon, với yêu cầu cao về kiểm kê phát thải, đo lường – báo cáo – thẩm định (MRV) và hiệu suất năng lượng. Hiện có 51/61 doanh nghiệp xi măng trong nước phải thực hiện kiểm kê phát thải trong giai đoạn 2025–2026, với hạn ngạch chiếm gần 29% tổng hạn ngạch quốc gia. Điều này tạo áp lực lớn nhưng cũng là động lực để ngành đẩy mạnh đổi mới công nghệ.
![]() |
| PGS TS Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) |
Cho biết, Việt Nam hiện là quốc gia sản xuất xi măng lớn thứ ba thế giới, với sản lượng năm 2025 ước đạt hơn 100 triệu tấn, tuy nhiên theo PGS. TS. Lương Đức Long, ngành này cũng đối mặt với ba nguồn phát thải chính: từ phản ứng hóa học của nguyên liệu, từ nhiên liệu nung clinker và từ tiêu thụ điện năng.
Để giảm phát thải, ngành xi măng đang triển khai nhiều giải pháp theo từng giai đoạn. Trong ngắn hạn, tập trung tối ưu hóa năng lượng, tận dụng nhiệt thải và tăng tỷ lệ nhiên liệu thay thế. Trong trung hạn, phát triển các loại xi măng ít clinker và vật liệu thay thế. Về dài hạn, các công nghệ như thu giữ và lưu trữ carbon (CCS/CCU) sẽ đóng vai trò then chốt.
Phiên thảo luận tại Diễn đàn với chủ đề “Thị trường các-bon: Khung chính sách và cơ chế vận hành tại Việt Nam” đã ghi nhận nhiều ý kiến từ các chuyên gia trong và ngoài nước. Các đại biểu cho rằng, để thị trường các-bon vận hành hiệu quả, cần có sự đồng bộ giữa chính sách, hạ tầng kỹ thuật và năng lực thực thi của doanh nghiệp. Trong đó, việc xây dựng hệ thống MRV minh bạch, chuẩn hóa phương pháp tính toán phát thải, cũng như nâng cao nhận thức và năng lực của doanh nghiệp là những yếu tố then chốt. Bên cạnh đó, cần phát triển thị trường tài chính xanh để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch.
Các chuyên gia cũng nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc tạo lập môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, đồng thời khuyến khích khu vực tư nhân tham gia thông qua các cơ chế ưu đãi và hỗ trợ phù hợp.
![]() |
| Các diễn giả tham gia phiên thảo luận |
Có thể thấy, việc phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam không chỉ là yêu cầu tất yếu để thực hiện các cam kết quốc tế, mà còn là cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh và bền vững. Trong bối cảnh thời gian không còn nhiều để đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050, việc sớm hoàn thiện và vận hành hiệu quả thị trường các-bon sẽ là một trong những chìa khóa quan trọng giúp Việt Nam vừa bảo vệ môi trường, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong dài hạn.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/hoan-thien-chinh-sach-mo-loi-thi-truong-cac-bon-tai-viet-nam-180737.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.