| An toàn số - điều kiện sống còn của doanh nghiệp nhỏ và vừa AI tái định hình hạ tầng số, mở cuộc đua nghìn tỷ USD Thanh toán QR xuyên biên giới thúc đẩy kinh tế số Việt Nam |
![]() |
| TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu đề dẫn hội thảo |
Tận dụng kinh tế số, mở rộng không gian tăng trưởng
Phát biểu đề dẫn Hội thảo, TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho biết, kinh tế thế giới đang đối mặt với nhiều bất ổn, tăng trưởng có xu hướng chậm lại, trong khi rủi ro gia tăng trên nhiều phương diện như địa chính trị, thương mại, tài chính và năng lượng. Các xung đột quốc tế diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi cung ứng, logistics và thị trường năng lượng toàn cầu, qua đó tác động không nhỏ đến kinh tế Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, việc tận dụng cơ hội từ phát triển kinh tế số được xem là hướng đi quan trọng giúp Việt Nam mở rộng không gian tăng trưởng, giảm thiểu tác động tiêu cực từ bên ngoài và tạo động lực phát triển mới.
Về chủ trương, phát triển kinh tế số đã được xác định từ năm 2019, với mục tiêu đến năm 2030 kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP. Đến năm 2025, quy mô kinh tế số của Việt Nam ước đạt khoảng 72 tỷ USD, chiếm khoảng 14–14,2% GDP, cho thấy xu hướng phát triển tích cực và dư địa còn rất lớn trong thời gian tới.
![]() |
| Họp báo công bố Ấn phẩm Đánh giá Kinh tế Việt Nam thường niên 2025 |
Cũng tại Hội thảo, GS.TS Tô Trung Thành, Đại học Kinh tế Quốc dân cho biết, quy mô kinh tế số của Việt Nam đạt khoảng 14,02% GDP, với tốc độ tăng hằng năm khoảng 10%. Đây là con số đáng ghi nhận, nhưng vẫn tồn tại ba vấn đề lớn.
Thứ nhất, kinh tế số lõi, gồm sản xuất và dịch vụ công nghệ thông tin - truyền thông, chiếm khoảng 60% tổng giá trị kinh tế số. Điều này cho thấy kinh tế số chủ yếu tăng nhờ các ngành trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ ICT, trong khi quá trình số hóa lan tỏa sang các ngành kinh tế khác còn hạn chế.
Thứ hai, không gian phát triển kinh tế số phân hóa rõ nét. Các trung tâm sản xuất công nghệ cao gắn với khu vực FDI tập trung ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên; trong khi Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đóng vai trò trung tâm dịch vụ số và đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, tăng trưởng của kinh tế số lõi chủ yếu là tăng về quy mô, chưa phải tăng về chất lượng. Tỷ lệ chi phí trung gian trong khu vực này lên tới 70-80% giá trị sản xuất, cao hơn mức chung của nền kinh tế. Tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất chỉ khoảng 20-25%, thấp hơn mức 35-40% của toàn nền kinh tế.
Cần thay đổi cách thức vận hành nền kinh tế
Theo các chuyên gia tại Hội thảo, ở cấp độ doanh nghiệp, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế số lõi có năng suất cao hơn, phản ánh vai trò của công nghệ trong tối ưu hóa quy trình và nâng cao hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, tác động của kinh tế số không đồng đều. Các ngành chế biến, chế tạo và logistics hưởng lợi rõ hơn; trong khi nông nghiệp và một số dịch vụ truyền thống chịu chi phí chuyển đổi cao, nên tác động ngắn hạn có thể chưa tích cực.
![]() |
| Toàn cảnh Hội thảo |
Doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI có khả năng khai thác công nghệ tốt hơn. Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về nguồn lực, quản trị và năng lực hấp thụ công nghệ. Vì vậy, kinh tế số không tự động cải thiện năng suất nếu doanh nghiệp không đủ năng lực chuyển đổi.
Chính vì vậy, GS.TS Tô Trung Thành cho rằng điểm mấu chốt là phải chuyển từ tư duy “số hóa” sang tư duy “tái cấu trúc nền kinh tế dựa trên dữ liệu và công nghệ số”. Kinh tế số không chỉ là đưa công nghệ vào nền kinh tế, mà là thay đổi cách thức vận hành của nền kinh tế.
Theo đó, cần tập trung vào ba trụ cột lớn. Một là phát triển kinh tế số lõi, chuyển từ gia công công nghệ sang làm chủ công nghệ, nâng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa. Hai là số hóa các ngành kinh tế, không chỉ đưa công nghệ vào mà phải tái cấu trúc chuỗi giá trị dựa trên dữ liệu. Ba là thúc đẩy quản trị số, coi dữ liệu là nền tảng để giảm chi phí tuân thủ, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Trên cơ sở đó, GS.TS Tô Trung Thành đề xuất năm nhóm giải pháp chính: hoàn thiện thể chế và khung pháp lý cho dữ liệu, giao dịch điện tử, sandbox, mô hình mới và sở hữu trí tuệ; phát triển công nghệ lõi như phần mềm, AI, nền tảng số và nhân lực chất lượng cao; nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tham gia sâu hơn vào các khâu giá trị cao; đẩy mạnh chuyển đổi số trong các ngành như logistics, tài chính, nông nghiệp; đồng thời tăng năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp thông qua tín dụng chuyển đổi số, hạ tầng số, giáo dục và phát triển kỹ năng.
Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn trong chuyển dịch chuỗi giá trị toàn cầu và hình thành các động lực tăng trưởng mới. "Nếu bỏ lỡ giai đoạn này, khả năng tăng trưởng thực chất trong dài hạn sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, câu chuyện hiện nay không chỉ là tăng trưởng nhanh hay chậm, mà là lựa chọn hướng phát triển của nền kinh tế trong 10 năm tới", GS.TS Tô Trung Thành khẳng định.
![]() |
| GS.TS Tô Trung Thành, Đại học Kinh tế Quốc dân phát biểu tại Hội thảo |
| Tại Việt Nam, phát triển kinh tế số đã được xác định là trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, là động lực mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. |
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/kinh-te-so-khong-chi-la-dua-cong-nghe-vao-nen-kinh-te-ma-phai-thay-doi-cach-thuc-van-hanh-181105.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.