| Điểm lại thông tin kinh tế ngày 6/5 Điểm lại thông tin kinh tế ngày 7/5 |
![]() |
| Điểm lại thông tin kinh tế |
Tổng quan
Tình hình kinh tế Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026 tiếp tục khởi sắc, tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức cần hóa giải để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm nay.
Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, sản xuất công nghiệp tháng 4 và 4 tháng đầu năm duy trì đà tăng khá tích cực, tuy nhiên giá đầu vào tăng mạnh, đơn đặt hàng mới giảm có thể khiến triển vọng các tháng tới trở nên đáng lo ngại. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp IIP tháng 4/2026 ước tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến chế tạo tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước; ngành khai khoáng tăng 7,6%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,9%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến chế tạo tăng 9,9%, đóng góp 7,8 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,5%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 4,0%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm.
Chỉ số PMI lĩnh vực sản xuất tháng 4 giảm xuống 50,5 điểm (tháng 3 là 51,2 điểm) nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 50 điểm cho thấy sản xuất tiếp tục mở rộng nhẹ. Tuy nhiên, số lượng đơn đặt hàng mới giảm lần đầu tiên trong 8 tháng, chi phí đầu vào và giá cả đầu ra tăng mạnh nhất kể từ tháng 4/2011. Sản lượng sản xuất tiếp tục tăng nhưng tốc độ thấp nhất trong 10 tháng, phản ánh áp lực lạm phát tăng, nguồn cung khan hiếm và thị trường bất ổn do cuộc chiến ở Trung Đông. Hiệu suất hoạt động của các nhà cung cấp suy giảm ở mức độ lớn, thời gian giao hàng kéo dài do các vấn đề về chi phí, khả năng vận chuyển, tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu.
Áp lực tăng giá lan tỏa sang hầu hết các mặt hàng do chi phí đầu vào gia tăng. Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 4 tăng 0,84% so với tháng trước, 5,46% so với cùng kỳ năm trước và 3,99% bình quân so với cùng kỳ. Trong tháng 4, có 10 nhóm hàng tăng giá, chỉ duy nhất 1 nhóm giao thông giảm theo giá thế giới. Đáng chú ý: nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,59% chủ yếu do giá gas tăng 35,3%, giá vật liệu bảo dưỡng nhà tăng 4,11%, giá dịch vụ sửa chữa nhà tăng 1,93%, giá thuê nhà tăng 0,79%.
Chi phí đầu vào tăng, đặc biệt giá nguyên nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển cùng với nhu cầu xây dựng tăng, góp phần đẩy giá các loại vật liệu như cát, đá, xi măng, thép, gạch tăng mạnh. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,58%, trong đó ăn uống ngoài gia đình tăng 1,94% do chi phí nguyên liệu đầu vào và giá gas tăng mạnh. Bên cạnh đó, chi phí nhân công, thuê mặt bằng và vận hành tăng cùng với việc các địa phương quản lý hoạt động kinh doanh vỉa hè, lòng đường khiến các cơ sở kinh doanh điều chỉnh giá để bù đắp chi phí.
Trong 4 tháng đầu năm 2026, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công vẫn còn chậm, tình trạng “vốn chờ dự án” vẫn phổ biến. Tính đến hết ngày 30/04/2026, tổng số vốn đã giải ngân đạt 144.282,9 tỷ đồng, tương ứng 14,2% kế hoạch do Thủ tướng Chính phủ giao. Trong đó, nguồn vốn ngân sách trung ương giải ngân được 38.802,5 tỷ đồng, đạt 10,7%, còn ngân sách địa phương đạt 105.480,4 tỷ đồng, tương đương 16,2%. So với cùng kỳ năm 2025, giá trị giải ngân tăng thêm 12.615,7 tỷ đồng, tuy nhiên tỷ lệ thực hiện lại giảm 1,7%.
Theo Bộ Tài chính, nhiều khó khăn, vướng mắc cố hữu vẫn trực tiếp ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân trong những tháng đầu năm. Nổi bật, tình trạng thiếu hụt vật liệu xây dựng như đất đắp, cát và đá diễn ra ở nhiều địa phương, trong khi chi phí nhiên liệu và vận chuyển tăng cao, khiến tổng mức đầu tư bị đội lên và buộc phải điều chỉnh dự án hoặc hợp đồng. Ngoài ra, những biến động từ xung đột Trung Đông được dự báo có thể tiếp tục đẩy giá nguyên vật liệu tăng, làm gia tăng rủi ro tài chính cho các nhà thầu và ảnh hưởng đến tiến độ triển khai.
Song song, công tác giải phóng mặt bằng vẫn là điểm nghẽn khi nhiều dự án gặp khó trong việc xác định nguồn gốc đất, xây dựng phương án bồi thường và di dời hạ tầng kỹ thuật. Bên cạnh đó, tổng quy mô kế hoạch vốn đầu tư năm 2026 tính đến cuối tháng 4, bao gồm cả vốn được giao, vốn địa phương bổ sung và phần chuyển tiếp từ các năm trước, đạt 1.106.800,55 tỷ đồng, tạo áp lực rất lớn đối với giải ngân đầu tư công trong những tháng tiếp theo.
Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tiếp tục khởi sắc, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của cùng kỳ 5 năm. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 27/04 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 18,24 tỷ USD, tăng 32,0% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7,40 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, cao nhất của 4 tháng đầu năm trong 5 năm qua. Trong đó: công nghiệp chế biến chế tạo đạt 6,12 tỷ USD, chiếm 82,7% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh BĐS đạt 540,5 triệu USD, chiếm 7,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 270,6 triệu USD, chiếm 3,7%, ...
Cán cân thương mại thâm hụt mạnh. Trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng trưởng ấn tượng tới 24,2%, đạt 344,17 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm 2025; nhập khẩu đạt 175,64 tỷ USD, tăng nhanh hơn xuất khẩu với mức 28,7%. Cán cân thương mại ghi nhận nhập siêu 7,11 tỷ USD (cùng kỳ 2025 xuất siêu 4,3 tỷ USD). Đáng chú ý, về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 4 tháng, nhóm tư liệu sản xuất ước đạt 165 tỷ USD, chiếm 94,2%, trong đó hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 54,8%, nhóm nguyên nhiên vật liệu chiếm 39,4%. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 15,61 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 8,5 tỷ USD. Diễn biến này cho thấy các doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp FDI tăng cường nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên liệu đầu vào để phục vụ sản xuất cho các tháng cuối năm, phòng ngừa rủi ro tăng giá, …
Tóm lược thị trường trong nước tuần từ 4-8/5
Thị trường ngoại tệ tuần từ 4-8/5, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh nhẹ qua các phiên. Chốt ngày 8/5, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.112 VND/USD, giảm 01 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
HNN niêm yết tỷ giá mua USD ở mức 23.907 VND/USD, cao hơn 50 đồng so với tỷ giá sàn; trong khi đó, giá bán USD được niêm yết mức ở mức 26.317 VND/USD, thấp hơn 50 đồng so với tỷ giá trần.
Tỷ giá đô-đồng liên ngân hàng trong tuần từ 4-8/5 có xu hướng giảm nhẹ. Kết thúc phiên 08/05, tỷ giá liên ngân hàng đóng cửa tại 26.309 VND/USD, giảm 46 đồng so với phiên cuối tuần trước đó.
Tỷ giá đô-đồng trên thị trường tự do cũng trong xu hướng giảm. Chốt phiên 8/5, tỷ giá tự do giảm 170 đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên cuối tuần trước đó, giao dịch tại 26.454 VND/USD và 26.574 VND/USD.
Thị trường tiền tệ liên ngân hàng tuần từ 4-8/5, lãi suất VND liên ngân hàng chỉ có 1 phiên tăng đầu tuần rồi giảm trở lại ở tất cả các kỳ hạn. Kết thúc ngày 08/05, lãi suất VND liên ngân hàng giao dịch ở mức: qua đêm 5,00% (-1,40 điểm phần trăm); 1 tuần 5,45% (-0,70 điểm phần trăm); 2 tuần 6,0% (-0,50 điểm phần trăm); 1 tháng 6,75% (-0,40 điểm phần trăm).
Lãi suất USD liên ngân hàng dao động nhẹ qua các phiên, chốt phiên cuối tuần 08/05 giao dịch ở mức: qua đêm 3,66% (+0,01 điểm phần trăm); 1 tuần 3,71% (+0,01 điểm phần trăm); 2 tuần 3,76% (+0,01 điểm phần trăm) và 1 tháng 3,81% (không đổi).
Trên thị trường mở tuần qua, ở kênh cầm cố, NHNN chào thầu 43.000 tỷ đồng với các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 35 ngày và 56 ngày, lãi suất duy trì ở mức 4,5%. Toàn bộ khối lượng này đều trúng thầu. Trong tuần có 37.168,83 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố.
NHNN không chào thầu tín phiếu NHNN trong tuần từ 4-8/5.
Như vậy, tuần qua, NHNN bơm ròng 5.831,17 tỷ đồng ra thị trường qua kênh thị trường mở. Có 315.451,67 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.
Thị trường trái phiếu phiên 6/5, kho bạc nhà nước đấu thầu thành công 5.500 tỷ đồng/18.500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ gọi thầu, tỷ lệ trúng thầu chỉ đạt 30%. Trong đó, kỳ hạn 5 năm huy động được 2.000/3.000 tỷ đồng gọi thầu và kỳ hạn 10 năm huy động được 3.500/14.000 tỷ đồng gọi thầu. Kỳ hạn 15 năm và 30 năm huy động lần lượt 1.000 tỷ đồng và 500 tỷ đồng, tuy nhiên không có khối lượng trúng thầu ở cả 2 kỳ hạn. Lãi suất trúng thầu ở kỳ hạn 5 năm là 3,89% (+0,03 điểm phần trăm so với lần đấu thầu trước), 10 năm là 4,17% (+0,01 điểm phần trăm).
Ngày 13/ 5, kho bạc nhà nước dự kiến chào thầu 16.500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ, trong đó kỳ hạn 5 năm chào thầu 3.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10 năm chào thầu 12.000 tỷ đồng, kỳ hạn 15 năm chào thầu 1.000 tỷ đồng và kỳ hạn 30 năm chào thầu 500 tỷ đồng.
Giá trị giao dịch Outright và Repos trên thị trường thứ cấp trong tuần đạt trung bình 15.130 tỷ đồng/phiên, giảm nhẹ so với mức 16.744 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Lợi suất trái phiếu chính phủ trong tuần dao động nhẹ ở tất cả các kỳ hạn. Chốt phiên 08/05, lợi suất trái phiếu chính phủ giao dịch quanh 1 năm 3,27% (+0,01 điểm phần trăm so với phiên cuối tuần trước đó); 2 năm 3,37% (+0,01 điểm phần trăm); 3 năm 3,45% (-0,02 điểm phần trăm); 5 năm 4,05% (-0,01 điểm phần trăm); 7 năm 4,13% (-0,001 điểm phần trăm); 10 năm 4,24% (-0,001 điểm phần trăm); 15 năm 4,35% (+0,01 điểm phần trăm); 30 năm 4,46% (-0,01 điểm phần trăm).
Thị trường chứng khoán tuần từ 4-8/5, thị trường chứng khoán tăng tích cực sau kỳ nghỉ lễ song xu hướng tăng không đồng đều ở 3 sàn. Kết thúc phiên 08/05, VN-Index đứng ở mức 1.915,37 điểm, tăng mạnh tới 61,27 điểm (+3,30%) so với phiên cuối tuần trước đó; HNX-Index giảm 4,17 điểm (-1,66%) xuống mức 246,49 điểm; UPCoM-Index mất 0,16 điểm (-0,13%) còn 127,33 điểm.
Thanh khoản thị trường trung bình đạt hơn 22.465 tỷ đồng/phiên, tăng nhẹ so với mức 22.100 tỷ đồng/phiên của tuần trước đó. Khối ngoại tiếp tục bán ròng hơn 2.660 tỷ đồng trên cả 3 sàn.
Tin quốc tế
Kinh tế Mỹ đón một số chỉ báo quan trọng. Đầu tiên, Viện Quản lý Cung ứng Mỹ ISM khảo sát cho biết chỉ số PMI lĩnh vực dịch vụ tại nước này đạt 53,6% trong tháng 4, giảm nhẹ xuống từ 54,0% của tháng 3, gần khớp với dự báo ở mức 53,7%.
Tiếp theo, về thị trường lao động, nước Mỹ tạo ra 6,87 triệu cơ hội việc làm mới trong tháng 4, thấp hơn một chút so với mức 6,92 triệu của tháng 3 và cũng gần khớp với dự báo ở mức 6,86 triệu. Đây là tháng có số cơ hội việc làm thấp thứ 2 trong vòng 5 năm qua và dữ liệu cũng cho thấy số cơ hội việc làm đang giảm dần theo thời gian, liên tục kể từ đầu năm 2022. Thu nhập bình quân theo giờ tại Mỹ chỉ tăng 0,2% so với tháng trước trong tháng 4 như tháng trước đó, không đạt kỳ vọng tăng 0,3% của thị trường.
Tuy nhiên, số việc làm khu vực phi nông nghiệp của nước này tháng 4 tăng tới 115 nghìn, mặc dù thấp hơn con số 185 nghìn của tháng 3 nhưng cao hơn nhiều so với dự báo tăng 65 nghìn. Tỷ lệ thất nghiệp tháng 4 của Mỹ giữ nguyên ở mức 4,3% như tháng 3 cũng là dự báo của giới phân tích.
Cuối cùng, về thị trường bất động sản, doanh số bán nhà mới tại Mỹ đạt 682 nghìn căn trong tháng 3, cao hơn so với mức 635 nghìn căn của tháng trước đó, đồng thời cao hơn so với mức 652 nghìn căn theo kỳ vọng. Trong tuần này, thị trường chờ đợi báo cáo chi tiết về chỉ số giá tiêu dùng CPI tại mỹ trong tháng 4, được công bố vào tối ngày 12/5 theo giờ Việt Nam.
Ngân hàng trung ương Úc (RBA) tiếp tục nâng lãi suất chính sách trong tháng 5. Trong cuộc họp ngày 5/5, RBA nhận định áp lực lạm phát đang cao, một phần đến từ năng lực sản xuất và một phần đến từ ảnh hưởng của xung đột tại Trung Đông. Theo kịch bản xung đột sớm kết thúc, lạm phát sẽ đạt đỉnh vào tháng 2 vừa qua sau đó giảm dần khi tăng trưởng nhu cầu chậm lại và áp lực về năng lực sản xuất giảm bớt do tác động của lãi suất cao hơn. RBA cũng quan ngại một cuộc xung đột kéo dài hoặc nghiêm trọng hơn có thể khiến lạm phát bùng lên dữ dội và dai dẳng.
Tại cuộc họp lần này, RBA quyết định tăng lãi suất chính sách thêm 25 điểm cơ bản, từ 4,1% lên mức 4,35%, là đợt tăng lãi suất chính sách thứ 2 liên tiếp sau khi xung đột tại Trung Đông nổ ra. RBA tiếp tục theo dõi chặt chẽ các dữ liệu và đánh giá các rủi ro để định hướng chính sách tiền tệ trong tương lai.
Liên quan đến kinh tế Úc, Văn phòng Thống kê nước này công bố mức tiêu dùng bình quân của các hộ gia đình tăng 1,6% so với tháng trước trong tháng 3, cao hơn nhiều so với mức 0,3% ở tháng trước đó và gần khớp với dự báo ở mức 1,8%. So với cùng kỳ, chỉ báo này tăng tới 6,3% so với cùng kỳ, là động lực tăng trưởng chính của Úc trong hơn một năm vừa qua.
Cuối cùng, kim ngạch xuất khẩu tại Úc đạt 43,93 tỷ AUD trong tháng 3, giảm 2,7% so với tháng trước; và kim ngạch nhập khẩu đạt 45,77 tỷ AUD, tăng mạnh 14,15 so với tháng trước. Như vậy, cán cân thương mại nước này thâm hụt 1,84 tỷ AUD trong tháng 3 sau khi thặng dư 5,03 tỷ ở tháng 2, phản ánh nhu cầu của thị trường bùng lên do lo ngại lạm phát trong tương lai.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/diem-lai-thong-tin-kinh-te-tuan-tu-4-85-181747-181747.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.