Dữ liệu - “trái tim” của khu công nghiệp thông minh

Hiện nay, chi phí vận hành của khu công nghiệp (KCN) vốn tập trung chủ yếu ở 4 nhóm: điện và chiếu sáng, sửa chữa bảo trì, nhân sự và quản lý, nước và xử lý thất thoát. Đại diện một KCN cho biết, với diện tích rộng khoảng 300ha, chỉ một đường ống nước rò rỉ ngầm hoặc thiết bị điện trục trặc có thể ngốn hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng mỗi năm trước khi được phát hiện bằng mắt thường. Chi phí vận hành KCN có khi còn bị “đội” lên từ các khoản sửa chữa khẩn cấp, bộ máy nhân sự cồng kềnh, vi phạm cam kết dịch vụ (SLA) với khách thuê và thậm chí mất cơ hội thu hút các tập đoàn FDI lớn. Đó cũng là lý do và động lực để KCN tiến đến mô hình quản trị thông minh nhờ vào dữ liệu và công nghệ.
Khu công nghiệp thông minh – sự lựa chọn ưu việt Đổi mới mô hình hệ sinh thái công nghiệp thông minh

Vận hành tiết kiệm, hiệu quả hơn

Từ một trung tâm sản xuất dựa vào lợi thế vị trí và cảng biển, Hải Phòng đã ghi dấu ấn khi hướng tới xây dựng hệ sinh thái công nghiệp tích hợp công nghệ số. Chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2026, thành phố đã thu hút khoảng 3,098 tỷ USD vốn FDI, nâng tổng số dự án FDI còn hiệu lực lên 1.868 dự án với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 54 tỷ USD. Theo bà Nguyễn Thị Bích Dung, Phó Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, đi đôi với việc hoàn thiện hạ tầng vật lý, Hải Phòng là địa phương tiên phong trong số hóa công tác quản trị khu công nghiệp. Từ năm 2021, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đã phối hợp cùng Tập đoàn VNPT triển khai hệ thống quản trị, điều hành điện tử eHEZA. Hệ thống này giúp tạo nền tảng kết nối trực tiếp giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp, số hóa toàn bộ dữ liệu về đầu tư, xây dựng, môi trường, lao động, đồng thời cung cấp công cụ điều hành trực quan thông qua bảng điều khiển dữ liệu và bản đồ số. Dữ liệu từ hệ thống cũng được định hướng kết nối với Trung tâm Điều hành thông minh (IOC) của thành phố, phục vụ hiệu quả cho công tác theo dõi và ra quyết định chỉ đạo.

Những dữ liệu này đóng góp trực tiếp vào hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong các KCN. Ngay tại KCN kể trên, sau khi triển khai nền tảng vận hành thông minh, các chỉ số này đều giảm rõ rệt khi chi phí điện giảm 6,5%; chi phí sửa chữa 3,5%; chi phí nhân sự 5% và chi phí nước 3%. Tổng hợp hiệu quả từ các giải pháp này giúp giảm khoảng 18% chi phí vận hành sau một năm triển khai. Các kết quả này đến từ việc KCN áp dụng công nghệ tự động hóa chiếu sáng, phát hiện rò rỉ (điện, nước) tức thì, dự báo thời điểm bảo trì... Đồng thời, nhờ nhiều khâu được tự động hóa, số lượng nhân sự tối ưu chỉ còn 16 người.

Dữ liệu gắn kết các chủ thể trong hệ sinh thái

Ông Hán Anh Vũ, Giám đốc công nghệ VNIZ cho rằng, dữ liệu chính là “nền móng mềm” của KCN thế hệ mới. Theo ông Vũ, điểm khác biệt cốt lõi của một KCN thông minh chính là khả năng biến dữ liệu thành công cụ điều hành, chuyển phương thức quản lý từ dựa trên kinh nghiệm sang dựa trên các chỉ số đo lường theo thời gian thực. Việc hình thành nền dữ liệu dùng chung sẽ giúp kết nối chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các chủ thể trong hệ sinh thái công nghiệp, tháo gỡ triệt để tình trạng báo cáo trùng lặp, đồng thời nâng cao năng lực giám sát và dự báo.

Tuy nhiên, quá trình số hóa KCN cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về công tác bảo đảm an toàn thông tin. Khi dữ liệu vận hành, chuỗi cung ứng và hệ thống điều khiển sản xuất cùng đưa lên môi trường số, chỉ một sự cố an ninh mạng cũng có thể gây gián đoạn sản xuất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh nghiệp và toàn bộ chuỗi cung ứng. Vì vậy, xây dựng KCN thông minh bắt buộc phải song hành với hạ tầng an toàn thông tin và an ninh mạng. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện hành lang pháp lý về kinh tế tuần hoàn, năng lượng sạch, tái sử dụng tài nguyên cùng nền tảng dữ liệu dùng chung chính là chìa khóa thúc đẩy quá trình chuyển đổi bền vững.

Để phát triển KCN thông minh ứng dụng dữ liệu lớn, ông Thái Hoàng Quỳnh, Phó Tổng Giám đốc Khối Hệ thống điện, Schneider Electric Việt Nam và Campuchia cho rằng, số hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) khi không còn đơn thuần là những công cụ hỗ trợ mà đang trở thành nền tảng cốt lõi để xây dựng các KCN thông minh, nâng cao hiệu quả vận hành và hướng tới một tương lai năng lượng thông minh.

Muốn triển khai mạnh giải pháp này, bà Vương Thị Minh Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cho biết, các địa phương cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp mang tính đột phá về thể chế. Trong đó, cần thay đổi tư duy thu hút đầu tư, chuyển trọng tâm từ ưu đãi thuế dàn trải sang việc ưu đãi dựa trên kết quả đầu ra đối với các dự án có giá trị gia tăng cao và cam kết chuyển giao công nghệ. Đồng thời, cần khơi thông nguồn tín dụng xanh, kiến tạo hành lang pháp lý ưu việt cho phép khấu hao nhanh tài sản số, tài sản sinh thái và thúc đẩy mạnh mẽ tính liên kết vùng để hình thành các cụm công nghiệp cộng sinh bền vững.

Đồng thời theo các chuyên gia, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhà nước, các chủ đầu tư hạ tầng KCN, cộng đồng doanh nghiệp và các đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ. Theo đó, nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế và hoàn thiện khung pháp lý; doanh nghiệp là chủ thể triển khai; còn các tổ chức khoa học công nghệ là lực lượng đồng hành trong nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các giải pháp đổi mới sáng tạo.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/du-lieu-trai-tim-cua-khu-cong-nghiep-thong-minh-186493.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.