Cơ chế hỗ trợ hạ tầng tìm được nguồn vốn dài hạn

Việt Nam đang bước vào một chu kỳ phát triển mới với quy mô đầu tư hạ tầng gia tăng mạnh tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều dự án cùng được đẩy nhanh để hướng tới các mục tiêu năm 2030, một kênh huy động vốn riêng lẻ khó có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu.
Cơ chế hỗ trợ hạ tầng tìm được nguồn vốn dài hạn
Nguồn: Báo Chính phủ

Huy động vốn một cách hợp lý

Theo các nghiên cứu, hiệu suất hay hiệu quả của cơ sở hạ tầng là một yếu tố quyết định rất quan trọng đến các tác động kinh tế. Không bỏ lỡ cơ hội phát triển, Việt Nam cũng đang bước vào một chu kỳ phát triển mới với quy mô đầu tư hạ tầng gia tăng mạnh tại nhiều địa phương như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Phú Quốc.

Đầu tư cho hạ tầng đòi hỏi một lượng vốn lớn trong thời gian dài và chính sách nên luôn có sự dẫn dắt của chính phủ, chính quyền địa phương. Trong bối cảnh nhiều dự án cùng được đẩy nhanh để hướng tới các mục tiêu năm 2030, một kênh huy động vốn riêng lẻ khó có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu. Do đó, nguồn lực từ Nhà nước, hệ thống ngân hàng và thị trường vốn cần được phối hợp để đáp ứng yêu cầu đầu tư. Trong 5 năm qua, đầu tư công chiếm gần 30% nguồn vốn cho hạ tầng. Song từ năm 2026 đến 2030, nền kinh tế Việt Nam cần khoảng 450 tỷ USD cho hạ tầng, trong đó ngân sách nhà nước và đầu tư công chỉ có thể gánh vác khoảng 21% còn là phải trông cậy vào khu vực tư nhân.

Trong đó, quy mô đầu tư công về giá trị tuyệt đối tiếp tục tăng, tỷ trọng trong tổng nguồn vốn dự kiến giảm dần. Vai trò của Nhà nước theo đó sẽ chuyển mạnh hơn sang tạo động lực, huy động và thu hút nguồn vốn tư nhân tham gia phát triển hạ tầng. Do đó, việc xã hội hóa các nguồn lực tài chính cho các dự án cơ sở hạ tầng, thu hút khu vực tư nhân tham gia góp vốn đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

Tuy nhiên, theo ông Trần Lê Minh, Tổng Giám đốc VIS Rating, nguồn vốn trong nước cũng như quốc tế luôn hiện hữu, nhưng trong suốt thời gian qua, các dự án hạ tầng dường như chưa có cách nào để huy động vốn một cách hợp lý. Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng đã chạm sát mức trần, gánh nặng huy động vốn sắp tới sẽ đặt lên vai thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Song thị trường vốn đang tồn tại một nghịch lý lớn. Đó là Việt Nam có nguồn tiền dài hạn từ các quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí tự nguyện hoặc các công ty bảo hiểm. Tuy nhiên, nhóm đầu tư này lại không được phép mua trái phiếu hạ tầng với quy mô lớn do những ràng buộc pháp lý và tính chất bảo thủ, ngưỡng chấp nhận rủi ro cực kỳ thấp của nguồn vốn hưu trí.

Hợp tác PPP cùng cơ chế bảo lãnh cho dự án

Để khai thông bế tắc, một chuyên gia cho rằng cần phải thay đổi rủi ro để dòng tiền này tới được nơi cần tới. Theo đó, công cụ then chốt để thực hiện điều này chính là các cơ chế bảo lãnh. Mục đích của bảo lãnh không nhất thiết là để đạt định mức tín nhiệm cao nhất, mà là để giảm thiểu rủi ro, biến trái phiếu hạ tầng thành một sản phẩm có thể đầu tư được đối với các quỹ hưu trí và bảo hiểm. Việc sử dụng bảo lãnh một phần thay vì bảo lãnh toàn phần để không làm “phình to” bảng cân đối kế toán của bên bảo lãnh, từ đó giúp mở rộng quy mô thị trường. Ngoài ra, các công cụ như bảo hiểm rủi ro một phần cũng có thể áp dụng để bảo vệ bên phát hành trước những rủi ro liên quan đến chính sách của nhà nước.

Đồng quan điểm về vấn đề này, bà Noriko Nasu, Giám đốc điều hành của CGIF, nhấn mạnh tầm quan trọng của các định chế tài trợ, giảm thiểu rủi ro, mở đường cho các quỹ đầu tư và quỹ hưu trí tham gia cung ứng vốn dài hạn. Tại Việt Nam, CGIF đã bước đầu thành công trong việc bảo lãnh các đợt phát hành trái phiếu nội tệ cho các dự án hạ tầng số và y tế. Bên cạnh đó, việc xếp hạng tín nhiệm cho các dự án hạ tầng cũng đòi hỏi sự linh hoạt. Do dự án PPP thường chỉ có một tài sản và một dòng tiền duy nhất, nên cần kết hợp phương pháp đánh giá huy động vốn dự án (trong giai đoạn xây dựng và vận hành) với phương pháp đánh giá tổ chức tài chính đối với bên chủ trì và bảo trợ dự án để đưa ra một định mức tín nhiệm phản ánh đúng mức độ rủi ro cho thị trường.

Dưới góc độ chuyên gia, đại diện Học viện Chính sách và Phát triển cho rằng cần có cơ chế chính sách đột phá và cải cách thủ tục hành chính, cải thiện và thúc đẩy môi trường đầu tư... Trong đó đa dạng hóa huy động vốn và ưu tiên vốn cho đầu tư vào các hạ tầng quan trọng đóng vai trò chủ đạo, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước và tăng cường hạ tầng cho các khu vực miền núi kém phát triển với quy mô phù hợp đảm bảo không lãng phí nguồn lực. Đồng thời cần tìm kiếm mô hình PPP phù hợp là giải pháp hiệu quả nhất để thu hút mạnh mẽ vốn từ xã hội như thu hút vốn cổ phần PPP. Đây là hình thức hợp tác giữa cơ quan đại diện của Nhà nước và các bên tư nhân theo tinh thần chia sẻ rủi ro và phân bổ lợi nhuận hợp lý cho các bên tư nhân. Kinh nghiệm của các nước cho thấy, phát triển cơ sở hạ tầng chủ yếu dựa trên PPP. Hình thức này đối với Việt Nam không phải là mới, nhưng trên thực tế hoạt động này chưa đáp ứng được kỳ vọng của các nhà hoạch định chính sách. Việt Nam cần thúc đẩy hơn nữa cơ chế đấu thầu công khai và minh bạch. Chính phủ đảm bảo thực hiện các cam kết trong hình thức PPP, bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư tư nhân, đặc biệt là các đối tác nước ngoài, tập trung vào phân bổ rủi ro và thu hồi chi phí, xác định rõ vai trò của các bên liên quan trong PPP.

Đặc biệt, theo các chuyên gia, định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) đang được Quốc hội thảo luận nhằm giải quyết căn bản điểm nghẽn thể chế, đồng bộ với Luật Đầu tư công sẽ hỗ trợ rất nhiều trong việc bổ sung nguồn vốn cho hạ tầng. Chia sẻ về vấn đề này, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, việc sửa đổi lần này nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng hai con số, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Các nhóm định hướng chính sách trọng tâm trong sửa đổi lần này, Chủ tịch Quốc hội cho rằng, nhóm thứ nhất, cần phải đổi mới phân cấp ngân sách, tăng quyền chủ động cho địa phương; hoàn thiện cơ chế phân chia nguồn thu, phân định rõ ràng giữa nguồn thu ngân sách Trung ương hưởng 100%, ngân sách địa phương hưởng 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm; tăng tính chủ động cho các đô thị động lực.

Nhóm thứ hai là "linh hoạt hóa" ranh giới chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, tức là có thể cho phép sử dụng kinh phí thường xuyên cho các nhiệm vụ mang tính chất đầu tư quy mô nhỏ như cải tạo, nâng cấp, mở rộng, sửa chữa tài sản công hiện có, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, lập, thẩm định quy hoạch và chuyển đầu tư dự án. Chuyển sang phân định dựa trên bản chất mục tiêu thay vì trên nguồn vốn; áp dụng nguyên tắc vốn đầu tư công tập trung cho các dự án hạ tầng lớn, tạo năng lực sản xuất mới; còn chi thường xuyên thì phục vụ duy trì, vận hành và nâng cao hiệu suất tài sản hiện có.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/co-che-ho-tro-ha-tang-tim-duoc-nguon-von-dai-han-186646.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.