Thông tư gồm 8 Điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 5/9/2026, đồng thời bãi bỏ Thông tư số 02/2020/TT-NHNN.
Theo NHNN, việc ban hành Thông tư nhằm hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa của thương nhân, bao gồm cả tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, phù hợp với quy định tại Nghị định số 292/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương.
Đối tượng áp dụng của Thông tư gồm ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối; thương nhân kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa; cùng các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động thanh toán và chuyển tiền cho các giao dịch kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa.
![]() |
| Quy định mới về thanh toán, chuyển tiền trong kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa. Ảnh: Hồng Sơn |
Một trong những nội dung doanh nghiệp cần lưu ý là nguyên tắc thanh toán và chuyển tiền. Theo Điều 3 Thông tư, hoạt động này được thực hiện trên cơ sở hai giao dịch thanh toán và chuyển tiền riêng biệt cho hai hợp đồng mua hàng hóa và hợp đồng bán hàng hóa do thương nhân ký với thương nhân nước ngoài. Trong đó, một giao dịch là chuyển tiền thanh toán cho hợp đồng mua hàng hóa và giao dịch còn lại là nhận tiền từ hợp đồng bán hàng hóa.
Thông tư cho phép giao dịch chuyển tiền thanh toán có thể được thực hiện trước hoặc sau giao dịch nhận tiền. Như vậy, quy định không đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải nhận được tiền từ hợp đồng bán hàng trước rồi mới được chuyển tiền để thanh toán hợp đồng mua hàng.
Đồng thời, mọi hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa phải được thực hiện thông qua ngân hàng được phép.
Đáng chú ý, trong cùng một giao dịch kinh doanh chuyển khẩu, thương nhân chỉ được thanh toán và chuyển tiền cho hợp đồng mua hàng hóa và hợp đồng bán hàng hóa tại cùng một ngân hàng được phép.
Thông tư cũng quy định trường hợp ngoại lệ. Nếu ngân hàng đang thực hiện thanh toán, chuyển tiền không còn được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối theo quy định của pháp luật, thương nhân được thực hiện thanh toán và chuyển tiền trong cùng giao dịch kinh doanh chuyển khẩu tại một ngân hàng được phép khác.
Về nguồn ngoại tệ, thương nhân được sử dụng hai nguồn để chuyển ra nước ngoài thanh toán cho hợp đồng mua hàng hóa. Thứ nhất là ngoại tệ trên tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ của chính thương nhân. Thứ hai là ngoại tệ mua của ngân hàng được phép.
Cùng với các nguyên tắc giao dịch, Thông tư quy định cụ thể trách nhiệm của ngân hàng và doanh nghiệp trong quá trình thanh toán, chuyển tiền.
Theo đó, ngân hàng được phép có trách nhiệm xây dựng quy định nội bộ, trong đó quy định việc kiểm tra đồng thời cả hợp đồng mua hàng hóa và hợp đồng bán hàng hóa trong cùng một giao dịch kinh doanh chuyển khẩu khi thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài. Ngân hàng cũng phải giám sát lượng ngoại tệ chuyển ra và ngoại tệ nhận về Việt Nam trong kinh doanh chuyển khẩu thông qua việc thống kê, theo dõi số liệu chuyển tiền ra và nhận tiền về trong cùng một giao dịch chuyển khẩu.
Khi thực hiện các giao dịch bán ngoại tệ, thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa cho khách hàng, ngân hàng có trách nhiệm xem xét, kiểm tra và lưu giữ giấy tờ, chứng từ phù hợp với giao dịch thực tế nhằm bảo đảm việc cung ứng dịch vụ ngoại hối được thực hiện đúng mục đích, phù hợp với Thông tư và các quy định pháp luật liên quan.
Ngân hàng đồng thời phải tuân thủ các quy định về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; thường xuyên giám sát các giao dịch chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa để bảo đảm giao dịch được thực hiện phù hợp với giao dịch thực tế. Ngân hàng được phép cũng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng thực hiện các quy định tại Thông tư.
Về phía doanh nghiệp, Điều 6 quy định thương nhân phải xuất trình các loại giấy tờ, chứng từ theo quy định của ngân hàng được phép khi mua ngoại tệ, thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa. Thương nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các loại giấy tờ, chứng từ đã xuất trình.
Một yêu cầu khác liên quan trực tiếp đến dòng tiền của giao dịch là thương nhân phải cung cấp thông tin về nguồn tiền nhận về từ hợp đồng bán hàng hóa để ngân hàng thống kê, theo dõi số liệu chuyển tiền ra và nhận tiền về trong cùng một giao dịch kinh doanh chuyển khẩu. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của những thông tin đã cung cấp.
Thông tư cũng quy định thương nhân không được sử dụng bộ hồ sơ, chứng từ của một giao dịch kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa để mua ngoại tệ, thanh toán và chuyển tiền tại nhiều ngân hàng được phép. Ngoại lệ duy nhất được quy định tại Thông tư là trường hợp ngân hàng đang thực hiện giao dịch không còn được phép kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và thương nhân chuyển sang thực hiện tại một ngân hàng được phép khác.
Như vậy, với các giao dịch chuyển khẩu hàng hóa thực hiện từ thời điểm Thông tư có hiệu lực, doanh nghiệp cần lưu ý một số yêu cầu trực tiếp trong quá trình thanh toán gồm thực hiện giao dịch qua ngân hàng được phép; thực hiện hai giao dịch thanh toán, chuyển tiền riêng biệt tương ứng với hợp đồng mua và hợp đồng bán; thực hiện hai chiều thanh toán tại cùng một ngân hàng, trừ trường hợp ngoại lệ được quy định; đồng thời cung cấp đầy đủ, chính xác giấy tờ, chứng từ và thông tin về nguồn tiền nhận về theo yêu cầu.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/tu-59-ap-dung-quy-dinh-moi-ve-thanh-toan-kinh-doanh-chuyen-khau-hang-hoa-187021.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.