Giá điện thử lại phương án vốn
Cục Điện lực (Bộ Công Thương) đang lấy ý kiến về khung giá phát điện năm 2026 đối với các nhà máy điện rác. Theo phương án do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) trình, mức giá trần dự kiến là 2.378,39 đồng/kWh, giảm 7,64% so với năm 2025. Mức giảm này khiến nhiều doanh nghiệp đề nghị rà soát các thông số dùng để hình thành giá điện.
Theo ông Nguyễn Đức Thắng, Giám đốc Ban Kỹ thuật nhiệt điện và điện rác thuộc Công ty TNHH Tư vấn Năng lượng VATEC, suất đầu tư thực tế của các nhà máy điện rác có thể cao hơn mức tham chiếu đang được sử dụng, nhất là với nhà máy quy mô nhỏ. Bên cạnh vốn đầu tư ban đầu, phương án tính giá cũng cần phản ánh sát hơn chi phí vận hành và sản lượng điện có thể tạo ra trong điều kiện thực tế.
Ông Thắng cho rằng rác sinh hoạt có độ ẩm cao, thành phần không đồng đều nên lượng điện tạo ra có thể thấp hơn thiết kế. Trong khi đó, nhà máy vẫn phải duy trì hệ thống xử lý khí thải, nước rỉ rác và tro bay. Vì vậy, với mức giá đang được đề xuất, thời gian hoàn vốn của một số dự án có thể kéo dài 15-17 năm, khiến việc thu xếp vốn vay dài hạn khó khăn hơn.
Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), phương án tài chính của các dự án điện rác phụ thuộc chủ yếu vào hai nguồn thu gồm tiền bán điện và phí xử lý rác. Hiện nay, nguồn thu từ xử lý rác tại nhiều dự án chưa ổn định. Nhiều địa phương vẫn xây dựng đơn giá xử lý rác trên cơ sở công nghệ chôn lấp, vốn có chi phí thấp hơn đốt rác phát điện.
Trong khi đó, các nhà máy điện rác phải đầu tư công nghệ và duy trì các công đoạn xử lý môi trường phức tạp hơn. Do đó, nếu tiếp tục áp dụng mức giá của công nghệ chôn lấp, khoản thu từ xử lý rác có thể chưa phản ánh đầy đủ chi phí thực tế của nhà máy.
Theo VCCI, đơn giá dịch vụ cũng chưa có cơ chế điều chỉnh rõ ràng trong suốt vòng đời dự án, có thể làm tăng rủi ro mất cân đối tài chính tại các nhà máy điện rác đang vận hành. Chẳng hạn, tại Nhà máy điện rác Thuận Thành và Nhà máy điện rác Lương Tài ở Bắc Ninh, những rủi ro tài chính đã bộc lộ khá rõ.
Theo báo cáo của UBND tỉnh Bắc Ninh, dự án tại Thuận Thành có tổng vốn hơn 1.700 tỷ đồng, công suất xử lý 500 tấn rác/ngày đêm và phát điện 11-13 MW. Sau 9 tháng vận hành thử, nhà máy đã xử lý gần 95.000 tấn rác và sản xuất khoảng 31 triệu kWh điện. Tuy nhiên, nhà máy chưa có lãi do chưa được ký hợp đồng và đơn giá xử lý rác chính thức. Thủ tục cấp phép hoạt động điện lực cũng chưa hoàn tất nên doanh thu bán điện chưa được ghi nhận.
Trong khi đó, Nhà máy điện rác Lương Tài có tổng vốn hơn 847 tỷ đồng, công suất xử lý 300 tấn rác/ngày đêm. Đến cuối tháng 9/2024, nhà máy đã hòa lưới hơn 22,5 triệu kWh điện. Tuy nhiên, doanh nghiệp phản ánh lượng rác được cung cấp chưa đạt công suất thiết kế. Đơn giá xử lý thấp trong khi chi phí thực hiện các yêu cầu bảo vệ môi trường cao cũng tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động của nhà máy.
![]() |
| Phối cảnh tổng thể Dự án Nhà máy điện rác Khánh Sơn tại Đà Nẵng |
Hợp đồng đầu ra mở khóa tín dụng
Theo TS. Phạm Văn Vượng, Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng, khả năng tiếp cận vốn vay của dự án điện rác theo hình thức đối tác công tư (PPP) phụ thuộc nhiều vào tính rõ ràng của hợp đồng và khả năng dự báo nguồn thu. Bởi ngân hàng không chỉ xem xét dự án có thể xử lý bao nhiêu rác hay sản xuất bao nhiêu điện, mà còn cần xác định các hoạt động đó sẽ tạo ra nguồn tiền như thế nào trong thời gian vay.
Tuy nhiên, việc xác lập nguồn thu của các dự án điện rác hiện nay không đơn giản vì các nhà máy này cùng lúc phải tuân thủ các quy định về đầu tư, môi trường, xây dựng và điện lực, chưa kể phải hoàn thiện cả hợp đồng xử lý rác và hợp đồng mua bán điện. Vì thế, nếu các thủ tục kéo dài hoặc trách nhiệm của từng bên chưa rõ, chi phí chuẩn bị sẽ tăng lên và khả năng huy động vốn cũng bị ảnh hưởng.
Trường hợp Dự án điện rác Vĩnh Tân tại Đồng Nai cho thấy khá rõ vấn đề này. Sau gần bốn năm với nhiều lần gia hạn, dự án có tổng vốn hơn 2.286 tỷ đồng phải dừng do báo cáo nghiên cứu khả thi chưa đáp ứng yêu cầu.
Theo hồ sơ được công bố, dự án còn thiếu nhiều nội dung về thiết kế, phòng cháy chữa cháy, pháp lý và môi trường. Đáng chú ý, phương án tài chính chưa rõ ràng, trong khi giá xử lý rác và giá bán điện đều chưa được xác định.
Bên cạnh cơ chế giá, TS. Phạm Văn Vượng cho rằng, hợp đồng PPP cần phân bổ rõ rủi ro về lượng rác đầu vào. Theo đó, cam kết khối lượng rác tối thiểu nên được đưa vào báo cáo nghiên cứu khả thi, hồ sơ mời thầu và hợp đồng dự án. Cơ chế này không nhằm bảo đảm toàn bộ doanh thu cho nhà đầu tư mà xác định trách nhiệm của địa phương về lượng rác đã cam kết, còn nhà đầu tư chịu trách nhiệm về công nghệ và vận hành.
Những yêu cầu về nguồn rác, giá dịch vụ và trách nhiệm của các bên cũng được đặt ra trong quá trình ngân hàng thẩm định cấp tín dụng. Chẳng hạn, tháng 7/2026, Agribank công bố cấp gói tín dụng tối đa 1.500 tỷ đồng cho Dự án Nhà máy điện rác Khánh Sơn tại Đà Nẵng.
Theo Agribank, việc xem xét cấp vốn không chỉ dựa vào khả năng trả nợ của chủ đầu tư mà còn bao gồm nguồn rác đầu vào, giá bán điện, phí xử lý chất thải, chi phí vận hành, công nghệ, hồ sơ pháp lý và hiệu quả môi trường. Trong đó, nguồn rác và các khoản thu từ xử lý chất thải, phát điện là những yếu tố liên quan trực tiếp đến khả năng tạo dòng tiền của dự án trong thời gian vay.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/ghep-dong-tien-cho-du-an-dien-rac-187101.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.