Kết nối nguồn lực xanh cho phát triển bền vững

Thực tế, sau 10 năm theo đuổi quy trình trồng rừng bền vững, tháng 10/2025, Công ty Bảo Thành (xã Xuân Du, tỉnh Thanh Hóa) đạt chứng chỉ rừng quốc tế FSC. Để có chứng chỉ này, doanh nghiệp phải thuê tư vấn, khảo sát vệ tinh, tổ chức lại sản xuất và vận động người dân thay đổi tập quán canh tác. Chi phí chuẩn hóa dao động từ 1,1 đến 1,2 triệu đồng/ha. Với tổng mức cấp tín dụng 41,5 tỷ đồng từ ngân hàng, doanh nghiệp chuẩn hóa hàng nghìn ha rừng, đầu tư máy móc, ứng vốn, cung cấp cây giống và cam kết bao tiêu sản phẩm cho người dân với mức giá cao hơn thị trường.
Kết nối nguồn lực xanh cho phát triển bền vững
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet
Vốn không chỉ đến từ tín dụng

Có thể thấy, với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong việc khơi thông dòng vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân triển khai các dự án xanh, thân thiện với môi trường, hỗ trợ tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero vào năm 2050.

Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh cho rằng, các TCTD ngày càng ưu tiên phân bổ nguồn vốn cho các lĩnh vực xanh, mô hình kinh tế tuần hoàn và từng bước lồng ghép các yếu tố ESG vào chiến lược phát triển. Kết quả cho thấy cả số lượng TCTD tham gia cấp tín dụng xanh và quy mô dư nợ xanh đều tăng mạnh trong thời gian qua.

Cụ thể, theo số liệu mới nhất, đến nay, đã có 82 TCTD phát sinh dư nợ tín dụng xanh với tổng dư nợ đạt 828 nghìn tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2017 - 2025 đạt trên 20% mỗi năm, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng nói chung. Dư nợ chủ yếu tập trung vào nông nghiệp xanh (trên 32%), năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng và hạ tầng logistics thân thiện với môi trường.

Tuy nhiên, tại Báo cáo Quốc gia về khí hậu và phát triển (CCDR), WB chỉ ra, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD vốn đầu tư bổ sung để thực hiện các mục tiêu thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải. Nếu đặt hơn 828.000 tỷ đồng tín dụng xanh trong tương quan với tổng dư nợ toàn nền kinh tế, tỷ trọng hiện mới đạt khoảng 4,2-4,5%.

Một chuyên gia phân tích, cũng cần phải thấu hiểu thách thức của ngành Ngân hàng trước khả năng cân đối nguồn lực của hệ thống. Bài toán tài chính khổng lồ trên không chỉ cần sự nỗ lực của ngành Ngân hàng mà cần có sự chung tay của cả nền kinh tế.

TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc chuyên môn Văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân cho biết, hệ thống các TCTD cũng đang đối mặt với rào cản lớn trong việc tiếp cận và khai thác dữ liệu về quy hoạch phát triển các dự án xanh theo từng ngành, lĩnh vực cũng như thông tin về tình hình tuân thủ các quy định môi trường của doanh nghiệp. Điều này khiến quá trình thẩm định và giám sát sau cho vay đối với các dự án xanh gặp nhiều khó khăn, làm giảm độ chính xác và tính kịp thời trong công tác quản trị rủi ro tín dụng.

Nguồn vốn quốc tế có chi phí cao, tiềm ẩn rủi ro tỷ giá và quy trình tiếp cận còn phức tạp, trong khi thị trường trái phiếu xanh và thị trường carbon trong nước chưa phát triển đồng bộ và hiệu quả.

Ở góc nhìn vĩ mô hơn, Phó Cục trưởng Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Hồng Quang nêu một thực tế: cách hiểu về tài chính xanh, tín dụng xanh, dự án xanh và phân loại xanh vẫn chưa thống nhất; các quy định còn phân tán, trong khi danh mục phân loại xanh mới được ban hành cần thêm thời gian để vận hành đồng bộ.

Để thẩm định một dự án xanh, ngân hàng không thể chỉ xem xét dòng tiền và khả năng trả nợ, còn phải đánh giá mức độ giảm phát thải, hiệu quả sử dụng tài nguyên, khả năng thích ứng biến đổi khí hậu và lợi ích môi trường. Khi chưa có bộ chỉ số đo lường thống nhất, cơ sở dữ liệu chuẩn hóa và cơ chế chia sẻ thông tin, chi phí thẩm định sẽ tăng lên, còn nguy cơ “xanh giả” cũng khó được kiểm soát.

Mở rộng cơ hội từ nguồn lực xanh

Trong khi nguồn lực ngân sách còn hạn chế, tín dụng xanh còn nhiều áp lực, trái phiếu xanh, các quỹ đầu tư xanh… được xem là kênh huy động vốn hiệu quả nhằm thu hút dòng tiền từ các nhà đầu tư quốc tế và các tổ chức tài chính phát triển.

Bà Trần Thị Quỳnh Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Tài chính - Kinh tế ngành (Bộ Tài chính) cho rằng, trước tiên cần phải hoàn thiện khung khổ thể chế, tạo nền tảng thống nhất cho thị trường tài chính xanh thông qua việc nghiên cứu xây dựng cơ chế khuyến khích đầu tư và tài chính xanh, phát hành và giao dịch trái phiếu xanh trong nước gắn với lộ trình kết nối thị trường vốn quốc tế; phát triển thị trường carbon trong nước, tạo động lực kinh tế, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch, sản xuất xanh và giảm phát thải…; từ đó thúc đẩy áp dụng phân loại xanh và chuẩn hóa tiêu chí phân loại dự án, cơ chế xác nhận, cơ chế công bố thông tin và báo cáo tác động môi trường, xã hội theo thông lệ quốc tế. Nghiên cứu, đề xuất để hoàn thiện chính sách thuế và phí có liên quan đến môi trường theo hướng khuyến khích chuyển đổi xanh thân thiện với môi trường. Việc xây dựng và điều chỉnh chính sách sẽ được thực hiện theo lộ trình phù hợp, đảm bảo lộ trình hài hòa giữa mục tiêu xanh và ổn định kinh tế vĩ mô.

Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế tài chính cho các dự án PPP trong các lĩnh vực hạ tầng xanh, năng lượng tái tạo, giao thông bền vững và bảo vệ môi trường; đẩy mạnh các hoạt động quốc tế, chủ động kết nối và lồng ghép các nguồn vốn xanh quốc tế như vốn viện trợ, vốn cho vay ưu đãi và vốn từ các quỹ khí hậu và quỹ đầu tư phát triển bền vững với khu vực tư nhân trong nước thông qua các cơ chế đồng tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật, từng bước kết nối thị trường trong nước với thị trường tài chính xanh khu vực và toàn cầu.

Để sử dụng hiệu quả nguồn tài chính xanh, GS.TS. Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội gợi ý, với những doanh nghiệp có nền tảng tài chính hạn chế, cách phù hợp hơn là bắt đầu nhỏ, làm đúng trọng tâm và đo lường được. Doanh nghiệp có thể thử nghiệm trên một dây chuyền, một nhà xưởng hoặc một công đoạn trong khoảng 3 đến 6 tháng. Khi chứng minh được mức giảm 10% điện, 15% nguyên liệu hoặc mức giảm phát thải rõ ràng, doanh nghiệp đã có dữ liệu thực tế để tiếp cận ngân hàng, quỹ hoặc nhà đầu tư với mức độ rủi ro thấp hơn.

Doanh nghiệp cũng không cần ngay lập tức triển khai hàng trăm tiêu chí ESG. Có thể lựa chọn 5 đến 10 chỉ tiêu quan trọng nhất, chẳng hạn năng lượng, phát thải, chất thải, lao động và quản trị. Mỗi chỉ tiêu cần có số liệu đầu vào, mục tiêu và kết quả cụ thể.

Để thực hiện, doanh nghiệp cần số hóa dữ liệu về năng lượng, nguyên liệu, sản xuất, tồn kho và chuỗi cung ứng. Khi có dữ liệu, doanh nghiệp mới có thể xác định chính xác mình đang tiêu tốn nguồn lực ở đâu, có thể tiết kiệm bao nhiêu và khoản đầu tư nào tạo ra hiệu quả. Đồng thời, AI có thể được ứng dụng để tối ưu sản xuất, giảm lãng phí và dự báo nhu cầu.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/ket-noi-nguon-luc-xanh-cho-phat-trien-ben-vung-187531.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.