Biến dữ liệu thành năng lực cạnh tranh

Trong kỷ nguyên số, lợi thế của một nền kinh tế không còn chỉ được quyết định bởi tài nguyên, lao động giá rẻ hay quy mô thị trường. Một nguồn lực mới đang ngày càng giữ vai trò trung tâm đó là dữ liệu và khả năng biến dữ liệu thành giá trị.
Hình ảnh minh họa được tạo bởi AI
Hình ảnh minh họa được tạo bởi AI

Từ dữ liệu đến năng lực sản xuất

Ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam cho biết, đây cũng là điểm khác biệt căn bản giữa “số hóa” và “chuyển đổi số”. Nếu số hóa chủ yếu là đưa thông tin, quy trình và hoạt động lên môi trường số thì mục tiêu cao hơn phải là sử dụng dữ liệu, công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) để tạo ra năng suất mới, mô hình kinh doanh mới và năng lực sản xuất mới. Với Việt Nam, đây không còn là câu chuyện lựa chọn, mà là yêu cầu phát triển trong một giai đoạn cạnh tranh mới.

Giai đoạn số hóa hiện nay đang đặt ra yêu cầu chuyển hóa dữ liệu thành tri thức, công nghệ, năng lực sản xuất và những giá trị thực tiễn về kinh tế, xã hội và chính sách. Dữ liệu chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi được quản trị, chuẩn hóa, xác thực, kết nối và đưa vào các quy trình tạo ra giá trị.

Đặc biệt, AI đang nhanh chóng chuyển từ một nhóm công nghệ chuyên biệt thành công nghệ nền tảng, tác động đồng thời tới năng suất, đầu tư, hạ tầng tính toán, chuỗi cung ứng và phân bổ vốn. Khi AI phát triển, dữ liệu không còn đơn thuần là đầu vào cho các hệ thống công nghệ mà trở thành một loại tài sản, đồng thời là một phần của hạ tầng kinh tế số.

Điều này đặt Việt Nam trước một bài toán lớn hơn việc xây dựng hạ tầng số. Câu hỏi quan trọng là nền kinh tế có đủ khả năng khai thác hạ tầng đó để tạo ra giá trị hay không. Thực tế, những nền tảng ban đầu đang được hình thành. Lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mang lại doanh thu khoảng 662.724 tỷ đồng, trong khi kim ngạch xuất khẩu phần cứng và điện tử đạt khoảng 21,5 tỷ USD. Việt Nam đứng thứ 9 thế giới về tốc độ băng rộng di động, đạt 210,85 Mbps và đứng thứ 2 Đông Nam Á về tỷ lệ sử dụng IPv6, đạt 67%. Số doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động đã vượt 81.600. Nhưng quy mô nguồn lực lớn không đồng nghĩa với năng lực tạo ra giá trị tương xứng.

Đây chính là điểm Việt Nam cần nhìn thẳng trong kỷ nguyên số. Nếu nền kinh tế chủ yếu tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp hoặc cung ứng dịch vụ có hàm lượng giá trị gia tăng thấp, thì sự gia tăng về doanh thu và kim ngạch xuất khẩu chưa thể hiện đầy đủ sự gia tăng về năng lực công nghệ.

Theo ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia - Bộ Khoa học và Công nghệ, giải pháp đột phá là xây dựng và đưa vào sử dụng các nền tảng số dùng chung Quốc gia.

Mục tiêu vì thế không chỉ là có thêm doanh nghiệp số, thêm dữ liệu hay thêm hạ tầng. Quan trọng hơn là phải hình thành được năng lực làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm, khai thác dữ liệu và tham gia sâu hơn vào những công đoạn có giá trị cao của chuỗi cung ứng.

Dòng vốn quốc tế cũng đang thay đổi

Sự thay đổi của công nghệ đang diễn ra đồng thời với sự thay đổi cấu trúc của dòng vốn quốc tế.

Theo thông tin từ World Investment Report 2026 của UNCTAD, FDI toàn cầu có hơn 80% tập trung vào 20 nền kinh tế tiếp nhận lớn nhất, trong khi các lĩnh vực chiến lược như hạ tầng AI, bán dẫn, khoáng sản quan trọng và công nghệ chuyển dịch năng lượng chiếm 44% giá trị các dự án đầu tư mới, tăng mạnh từ 16% năm 2020.

Điều đáng chú ý là vốn đang đi theo năng lực công nghệ. Những quốc gia có hạ tầng tính toán, năng lượng ổn định, nhân lực kỹ năng cao, hệ sinh thái doanh nghiệp và năng lực nghiên cứu phát triển sẽ có nhiều điều kiện hơn để tiếp nhận các dự án chiến lược. Vì vậy, cạnh tranh thu hút FDI trong giai đoạn mới không thể chỉ dựa vào chi phí lao động hay ưu đãi đầu tư.

Một dự án FDI không chỉ nên được nhìn bằng số vốn đăng ký hay quy mô nhà máy, mà phải được xem xét ở khả năng chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn quản trị, đào tạo nhân lực, kết nối doanh nghiệp trong nước và tạo ra giá trị gia tăng tại Việt Nam. Đây cũng là cách để FDI chuyển từ một nguồn vốn bổ sung thành một động lực nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế. UNCTAD cũng nhấn mạnh tác động phát triển của FDI phụ thuộc vào khả năng tạo năng lực sản xuất, việc làm, kỹ năng và chuyển giao công nghệ, chứ không đơn thuần nằm ở tổng lượng vốn.

Một nghịch lý cần được giải quyết là Việt Nam có thể thu hút những dự án công nghệ ngày càng lớn nhưng chưa chắc doanh nghiệp trong nước đã đủ khả năng tham gia vào chuỗi giá trị tương ứng. Lý do mục tiêu của kỷ nguyên số phải bao gồm cả hai vế đó là thu hút công nghệ từ bên ngoài và nâng năng lực hấp thụ công nghệ ở bên trong.

Doanh nghiệp Việt Nam cần được nâng cao khả năng sử dụng dữ liệu, ứng dụng AI, tự động hóa sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tham gia các mạng lưới cung ứng toàn cầu. Nếu doanh nghiệp trong nước không nâng được năng lực, khoảng cách giữa khu vực FDI và khu vực nội địa có thể tiếp tục tồn tại ngay cả khi dòng vốn công nghệ cao tăng lên. Việt Nam không chỉ cần một nền kinh tế có nhiều “nhà máy thông minh”, mà cần những doanh nghiệp Việt đủ năng lực trở thành một phần của hệ sinh thái thông minh đó.

Ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số Quốc gia Việt Nam chia sẻ, mục tiêu cuối cùng của kỷ nguyên số vì thế không phải là số lượng nền tảng, tốc độ Internet hay số doanh nghiệp công nghệ. Những chỉ số đó quan trọng, nhưng mới phản ánh điều kiện cần. Điều kiện đủ là khả năng biến những nguồn lực ấy thành năng suất và giá trị.

Đó là khả năng dùng dữ liệu để ra quyết định tốt hơn; dùng AI để tăng năng suất; dùng hạ tầng số để mở rộng thị trường; dùng công nghệ để nâng chất lượng sản phẩm; dùng FDI để tiếp nhận tri thức; dùng doanh nghiệp trong nước để giữ lại ngày càng nhiều giá trị trong nền kinh tế.

Trong quá trình đó, các tổ chức nghiên cứu và tư vấn chính sách cũng có vai trò đặc biệt. Không chỉ cung cấp dữ liệu hay những báo cáo xu hướng, các tổ chức này cần nhận diện những ngành, công nghệ và mô hình đầu tư có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa cao, từ đó đưa các đánh giá và khuyến nghị có chọn lọc vào hệ thống tư vấn chính sách trong nước và quốc tế.

Bởi trong một thế giới mà công nghệ và dòng vốn thay đổi nhanh hơn chu kỳ hoạch định chính sách, năng lực nghiên cứu, dự báo và chuyển hóa tri thức thành quyết sách cũng trở thành một dạng năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đó là làm chủ dữ liệu, nâng năng lực công nghệ, thu hút dòng vốn có chất lượng và quan trọng nhất là biến những nguồn lực ấy thành năng suất, tri thức và giá trị gia tăng do nền kinh tế Việt Nam tạo ra.

Nếu làm được điều đó, chuyển đổi số không chỉ thay đổi cách nền kinh tế vận hành. Nó có thể trở thành một phương thức để Việt Nam thay đổi vị trí của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/bien-du-lieu-thanh-nang-luc-canh-tranh-188199.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.