Giá cạnh tranh, điểm đến an toàn giúp du lịch Việt Nam tăng hạng

Sức cạnh tranh về giá đứng thứ 7 và an toàn, an ninh xếp thứ 9 thế giới đang trở thành hai lợi thế nổi bật của du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, khoảng cách về hạ tầng, dịch vụ và tác động kinh tế - xã hội cho thấy bài toán tiếp theo không chỉ là thu hút thêm khách, mà phải chuyển lợi thế về giá và tài nguyên thành mức chi tiêu, giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế cao hơn.
Đón tới 50 triệu khách quốc tế, du lịch Việt Nam đặt cược vào điều gì? Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách Indonesia Khơi thông dòng vốn vào hạ tầng du lịch: “Chìa khóa” đưa Việt Nam thành điểm đến toàn cầu
Giá cạnh tranh, điểm đến an toàn giúp du lịch Việt Nam tăng hạng
Sức cạnh tranh về giá và an toàn, an ninh đang trở thành hai lợi thế nổi bật của du lịch Việt Nam. Ảnh: VGP

Hai lợi thế vào nhóm 10 thế giới

Báo cáo Chỉ số Phát triển Du lịch và Lữ hành (TTDI) 2026 do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố ngày 25/9 cho thấy Việt Nam đạt 4,15 điểm, xếp thứ 52 trong 110 nền kinh tế, tăng 7 bậc so với kỳ đánh giá trước.

Trong Đông Nam Á, Việt Nam đứng sau Singapore, Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Đáng chú ý, Việt Nam có 7 trụ cột nằm trong nhóm 35 nền kinh tế dẫn đầu thế giới. Hai trụ cột có thứ hạng cao nhất là sức cạnh tranh về giá, đứng thứ 7 và an toàn, an ninh, xếp thứ 9.

Sức cạnh tranh về giá tăng 8 bậc, tiếp tục là lợi thế đáng kể trong thu hút khách quốc tế. Theo WEF, khoảng 3/4 số nền kinh tế được xếp hạng suy giảm sức cạnh tranh về giá trong giai đoạn 2024-2026 do chi phí du lịch tăng. Trong bối cảnh đó, duy trì chi phí hợp lý giúp Việt Nam có thêm lợi thế cạnh tranh.

An toàn và an ninh cũng tăng 18 bậc, lên vị trí thứ 9 thế giới. Đây là yếu tố ngày càng quan trọng khi những bất định về kinh tế, địa chính trị và khí hậu có thể ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn điểm đến của du khách.

Tuy nhiên, TTDI không trực tiếp đo kết quả kinh doanh như lượng khách, mức chi tiêu hay doanh thu, mà đánh giá những điều kiện và chính sách giúp du lịch phát triển. Vì vậy, tăng hạng chưa đồng nghĩa các lợi thế đã được chuyển hóa tương ứng thành hiệu quả kinh tế.

Không thể chỉ cạnh tranh bằng giá

Bảng xếp hạng cho thấy sự phát triển giữa các trụ cột của Việt Nam chưa đồng đều. Hạ tầng mặt đất và cảng đứng thứ 43, nhân lực và thị trường lao động thứ 50. Trong khi đó, hạ tầng và dịch vụ du lịch đứng thứ 74, sự bền vững về môi trường thứ 76, mức độ ưu tiên cho du lịch thứ 97 và tác động kinh tế - xã hội của du lịch đứng thứ 106 trong 110 nền kinh tế.

Khoảng cách này đặt ra một vấn đề đáng chú ý: Việt Nam có lợi thế lớn về giá nhưng vẫn còn nhiều dư địa để chuyển lợi thế đó thành giá trị kinh tế cao hơn.

Giá hợp lý có thể giúp thu hút khách, song cạnh tranh bằng giá thấp khó trở thành chiến lược dài hạn. Giá trị mà du lịch mang lại phụ thuộc nhiều hơn vào thời gian lưu trú và mức chi cho khách sạn, ẩm thực, mua sắm, vui chơi giải trí, vận tải cùng các dịch vụ khác.

Điều này đặc biệt đáng chú ý khi sức cạnh tranh về giá của Việt Nam đứng thứ 7 thế giới nhưng hạ tầng và dịch vụ du lịch mới ở vị trí 74. Khoảng cách giữa hai thứ hạng cho thấy dư địa nâng giá trị của ngành còn lớn.

Nếu có thêm sản phẩm nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, mua sắm, kinh tế ban đêm, du lịch văn hóa và những trải nghiệm chất lượng cao, lợi thế về chi phí có thể tạo điều kiện để du khách dành thêm ngân sách cho các hoạt động khác. Khi đó, “giá cạnh tranh” không đồng nghĩa với “du lịch giá rẻ”, mà trở thành nền tảng để tăng tổng giá trị của chuyến đi.

Hạ tầng và dòng vốn quyết định khả năng nâng giá trị

Muốn thực hiện bước chuyển này, đầu tư là mắt xích quan trọng. Một điểm đến khó kéo dài thời gian lưu trú nếu thiếu sản phẩm giải trí, cơ sở lưu trú phù hợp, mua sắm, giao thông thuận tiện và các dịch vụ chất lượng.

Với Việt Nam, hạ tầng vận tải hàng không lên vị trí 34 và hạ tầng mặt đất, cảng đứng thứ 43 là tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, hạ tầng và dịch vụ du lịch đứng thứ 74 cho thấy vẫn còn khoảng trống đầu tư vào những dịch vụ trực tiếp quyết định trải nghiệm và mức chi tiêu của khách.

Ở góc độ doanh nghiệp, nâng chất lượng dịch vụ kéo theo nhu cầu vốn. Cơ sở lưu trú cần vốn cải tạo; doanh nghiệp lữ hành cần đầu tư công nghệ, phát triển sản phẩm; các cơ sở vui chơi, mua sắm cần nguồn lực mở rộng và nâng chuẩn phục vụ.

Vì vậy, khả năng tiếp cận nguồn vốn phù hợp, trong đó có tín dụng ngân hàng, có ý nghĩa đối với quá trình nâng chất lượng hệ sinh thái du lịch. Tuy nhiên, nhiều dự án du lịch có thời gian hoàn vốn dài nên dòng vốn cần gắn với hiệu quả dự án, năng lực tài chính và khả năng tạo dòng tiền ổn định của doanh nghiệp.

Tăng hạng phải đi cùng tăng giá trị

TTDI 2026 cho thấy Việt Nam đã có những nền tảng đáng kể: giá cạnh tranh, điểm đến an toàn, tài nguyên tự nhiên và văn hóa phong phú, cùng khả năng kết nối ngày càng cải thiện. Nhưng sự chênh lệch giữa các trụ cột cũng chỉ ra bước chuyển tiếp theo của ngành du lịch.

Thách thức không còn đơn thuần là làm thế nào để có thêm khách, mà là làm thế nào để mỗi lượt khách tạo ra nhiều giá trị hơn cho doanh nghiệp, người lao động và địa phương.

Bởi vậy, vị trí thứ 7 về sức cạnh tranh giá nên được xem là điểm xuất phát hơn là đích đến. Nếu lợi thế này được kết hợp với đầu tư hạ tầng, nâng chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm và nguồn vốn phù hợp cho doanh nghiệp, Việt Nam có thể chuyển từ điểm đến có chi phí cạnh tranh sang điểm đến tạo ra giá trị cao hơn.

Khi đó, thành công của du lịch không chỉ được đo bằng thứ hạng hay lượng khách, mà còn bằng thời gian lưu trú dài hơn, mức chi tiêu cao hơn, hiệu quả kinh doanh tốt hơn và khả năng lan tỏa lợi ích tới nhiều ngành, nhiều địa phương. Đó là cách chuyển những lợi thế đang được TTDI ghi nhận thành năng lực cạnh tranh bền vững hơn của du lịch Việt Nam.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/gia-canh-tranh-diem-den-an-toan-giup-du-lich-viet-nam-tang-hang-188274.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.