2 triệu tỷ đồng mỗi năm qua thị trường vốn: Nguồn lực cho giai đoạn tăng trưởng mới

Để đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn của nền kinh tế trong giai đoạn 2026-2030, thị trường vốn được đặt vào vị trí ngày càng quan trọng trong việc cung ứng nguồn lực trung và dài hạn. Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Nguyễn Hoàng Dương, mục tiêu đặt ra là huy động bình quân 2 triệu tỷ đồng mỗi năm qua thị trường vốn, đồng thời tiếp tục mở rộng quy mô, tăng độ sâu, phát triển nhà đầu tư tổ chức và nâng chuẩn thị trường theo thông lệ quốc tế.
2 triệu tỷ đồng mỗi năm qua thị trường vốn: Nguồn lực cho giai đoạn tăng trưởng mới
Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Nguyễn Hoàng Dương, mục tiêu đặt ra là huy động bình quân 2 triệu tỷ đồng mỗi năm qua thị trường vốn (Ảnh TH)

Khoảng 10 triệu tỷ đồng cần huy động qua thị trường vốn

Một bài toán lớn đối với giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của Việt Nam là nguồn lực tài chính sẽ được huy động như thế nào để vừa đáp ứng nhu cầu đầu tư rất lớn của nền kinh tế, vừa từng bước giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.

Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Nguyễn Hoàng Dương đặt vấn đề này trong bối cảnh châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục khẳng định vị thế là động lực tăng trưởng kinh tế toàn cầu, trong khi Đông Nam Á nổi lên như một điểm sáng về thu hút đầu tư và đổi mới sáng tạo. Việt Nam cũng đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu cao hơn đối với khả năng huy động và phân bổ nguồn lực.

Năm 2026 đồng thời mở đầu giai đoạn 5 năm 2026-2030 trong lộ trình thực hiện Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030 theo Quyết định số 1726/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, song hành với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.

Theo ông Dương, để hiện thực hóa tầm nhìn này, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, riêng kênh thị trường vốn và chứng khoán được đặt mục tiêu huy động khoảng 10 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân 2 triệu tỷ đồng mỗi năm.

Những con số này cho thấy yêu cầu đối với thị trường vốn không đơn thuần là mở rộng quy mô giao dịch. Điều quan trọng hơn là nâng cao vai trò của thị trường vốn trong nước trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, qua đó giảm bớt gánh nặng và sự phụ thuộc vào hệ thống tín dụng ngân hàng.

Một loạt thay đổi về khuôn khổ pháp lý thời gian qua cũng được đặt trong định hướng đó. Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Chính phủ đã ban hành các nghị định hướng dẫn Luật Chứng khoán, tăng mức xử phạt và bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả đối với vi phạm trên thị trường, đồng thời hoàn thiện quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.

Riêng với trái phiếu doanh nghiệp, các quy định mới hướng tới chuẩn hóa mục đích phát hành; tăng trách nhiệm hạch toán, theo dõi riêng dòng tiền thu được; quy định giới hạn tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu không quá 5 lần. Việc bảo vệ nhà đầu tư chuyên nghiệp là cá nhân cũng được tăng cường thông qua yêu cầu trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ phải có xếp hạng tín nhiệm và có tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán.

Song song với hoàn thiện khuôn khổ quản lý, các sản phẩm công cụ nợ mới như trái phiếu xanh, trái phiếu dự án PPP, trái phiếu hạ tầng được chú trọng phát triển. Mục tiêu là từng bước đưa thị trường trái phiếu doanh nghiệp trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn đáng kể cho khu vực tư nhân, trong khi thị trường trái phiếu Chính phủ tiếp tục giữ vai trò huy động vốn cho ngân sách nhà nước và làm thị trường tham chiếu về lãi suất cho các sản phẩm tài chính.

Nâng hạng mới là một bước trong hành trình tăng quy mô thị trường

Nhìn vào những thay đổi của thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua, ông Nguyễn Hoàng Dương cho rằng, nhiều nhiệm vụ nền tảng đã được hoàn thành. Nổi bật là việc nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp theo tiêu chuẩn phân hạng của FTSE Russell.

Cùng với đó là quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tăng khả năng huy động vốn như gắn IPO với niêm yết, nâng cao chất lượng công ty đại chúng; tăng cường giám sát, kiểm tra, phòng ngừa gian lận, thao túng và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư; đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm điều kiện kinh doanh.

Các giới hạn đầu tư của quỹ mở vào chứng khoán phát hành riêng lẻ của công ty niêm yết và chứng khoán chào bán ra công chúng gắn với niêm yết cũng được mở rộng; đồng thời tiếp tục nghiên cứu bổ sung những sản phẩm đầu tư sinh lời mới vào danh mục của quỹ mở theo thông lệ quốc tế.

Một nền tảng khác là hệ thống công nghệ thông tin mới KRX được đưa vào vận hành ổn định từ ngày 5/5/2025. Theo ông Dương, đây là bước tiến quan trọng trong hiện đại hóa hạ tầng, nâng cao năng lực quản lý, giám sát và tạo nền tảng để thị trường chứng khoán Việt Nam tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, tạo thuận lợi hơn cho nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, nâng hạng không đồng nghĩa bài toán phát triển thị trường vốn đã được giải quyết.

Những khoảng cách về quy mô cho thấy dư địa phía trước còn rất lớn. Vốn hóa thị trường cổ phiếu mới đạt 77,6% GDP năm 2025, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 120% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu mới đạt 29,4% GDP, so với mục tiêu 58% GDP vào năm 2030, trong đó trái phiếu doanh nghiệp đặt mục tiêu đạt tối thiểu 25% GDP.

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn nhỏ, chưa tương xứng với nhu cầu huy động vốn dài hạn của nền kinh tế và còn nhiều dư địa để tiệm cận các thị trường trong khu vực.

Sản phẩm trên thị trường nợ cũng chưa đa dạng. Vì vậy, việc thúc đẩy các sản phẩm như trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững, trái phiếu hạ tầng được đặt ra nhằm huy động nguồn lực cho phát triển bền vững, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và đáp ứng nhu cầu vốn của giai đoạn tăng trưởng mới.

Khoảng cách giữa quy mô hiện tại với mục tiêu năm 2030 vì thế cũng chính là không gian phát triển của thị trường vốn trong những năm tới.

Cần 2 triệu tỷ đồng mỗi năm và một thị trường sâu và bền vững hơn

Lộ trình giai đoạn 2026-2030 được ông Nguyễn Hoàng Dương cụ thể hóa bằng nhiều mục tiêu.

Trước hết, Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì xếp hạng thị trường chứng khoán theo tiêu chuẩn FTSE Russell, đồng thời hướng tới đáp ứng các tiêu chí nâng hạng lên thị trường mới nổi của MSCI và thị trường mới nổi bậc cao của FTSE Russell từ nay đến năm 2030.

Về khả năng cung ứng vốn, mục tiêu đặt ra là giá trị huy động trên thị trường vốn đạt bình quân 2 triệu tỷ đồng mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030; tổng giá trị vốn huy động qua thị trường chứng khoán đạt 5,4 triệu tỷ đồng. Trái phiếu Chính phủ dự kiến đáp ứng khoảng 60% nhu cầu vay của Chính phủ trong cả giai đoạn, còn trái phiếu chính quyền địa phương đáp ứng khoảng 20% nhu cầu vay của ngân sách địa phương.

Nhưng để thị trường tăng trưởng bền vững, quy mô huy động vốn mới chỉ là một vế. Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển cơ sở nhà đầu tư theo hướng ưu tiên các nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực tài chính như quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và doanh nghiệp bảo hiểm, qua đó từng bước tạo sự cân bằng hơn giữa nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân.

Đến năm 2030, giá trị tài sản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường vốn, thị trường chứng khoán được đặt mục tiêu đạt khoảng 15% GDP; tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư chứng khoán đạt 5% GDP; quy mô tổng tài sản của các quỹ hưu trí tăng trưởng bình quân 11,5% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2030.

Đằng sau các chỉ tiêu này là mục tiêu cốt lõi mà lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước xác định: xây dựng thị trường vốn, thị trường chứng khoán công khai, minh bạch, tăng cả quy mô và độ sâu; nâng cao hiệu quả huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp và nền kinh tế; đẩy mạnh huy động thông qua chào bán cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng; đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán và các định chế tài chính trung gian.

Với nhà đầu tư quốc tế, quá trình mở rộng quy mô thị trường được đặt song hành với nâng chuẩn. Ông Nguyễn Hoàng Dương khẳng định cam kết hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện của thị trường vốn Việt Nam. Lộ trình áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) đang được tích cực triển khai; tiêu chuẩn quản trị công ty được định hướng nâng lên theo những thông lệ tốt nhất của OECD; doanh nghiệp được khuyến khích chủ động thực hành và công bố thông tin về môi trường, xã hội và quản trị (ESG).

Như vậy, bài toán của thị trường vốn trong giai đoạn phát triển tiếp theo không chỉ nằm ở việc huy động thêm bao nhiêu vốn, mà còn là xây dựng một thị trường có khả năng hấp thụ và phân bổ hiệu quả nguồn vốn trung, dài hạn.

Với nhu cầu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội và mục tiêu khoảng 10 triệu tỷ đồng được huy động qua thị trường vốn, chứng khoán trong giai đoạn 2026-2030, vai trò của thị trường đang được đặt ở một nấc thang mới. Cùng với mở rộng quy mô, việc nâng chuẩn quản trị, tăng minh bạch, phát triển nhà đầu tư tổ chức, đa dạng hóa sản phẩm và tiếp tục hội nhập sẽ là những cấu phần để thị trường vốn từng bước đáp ứng yêu cầu nguồn lực cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của Việt Nam.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/2-trieu-ty-dong-moi-nam-qua-thi-truong-von-nguon-luc-cho-giai-doan-tang-truong-moi-188421.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.