Khơi dòng vốn dài hạn cho tăng trưởng

Đặt bài toán vốn trong mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10% mỗi năm trong 5 năm tới, ông Nguyễn Hoàng Dương, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 1,5 nghìn tỷ USD. Ngân sách Nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, tương đương 20%; gần 80% còn lại phải đến từ khu vực tư nhân và nguồn vốn quốc tế.
Dòng vốn tiếp sức những động lực tăng trưởng
Thị trường vốn trước bài toán dẫn dòng tiền cho giai đoạn tăng trưởng mới
Khơi dòng vốn dài hạn cho tăng trưởng
Ảnh minh họa

Áp lực và bài toán tái cân bằng nguồn vốn

Riêng thị trường vốn và thị trường chứng khoán (TTCK) được kỳ vọng đảm nhận khoảng 10 triệu tỷ đồng, trung bình khoảng 2 triệu tỷ đồng mỗi năm, tương đương 80 tỷ USD. Tổng giá trị vốn huy động qua TTCK dự kiến đạt 5,4 triệu tỷ đồng trong 5 năm, lớn hơn hai lần lượng vốn huy động giai đoạn 2020-2025.

Những con số này đặt ra yêu cầu thay đổi cấu trúc dẫn vốn. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng ngân hàng khoảng 18,58 triệu tỷ đồng, tương đương 730 tỷ USD và khoảng 145% GDP. Năm 2026, hệ thống ngân hàng dự kiến tiếp tục cung ứng thêm khoảng 2,8 triệu tỷ đồng tín dụng mới.

Trong khi đó, đến giữa năm 2026, vốn hóa thị trường cổ phiếu trên HoSE, HNX và UPCoM đạt khoảng 10,57 triệu tỷ đồng, bằng 82,3% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu khoảng 32,1% GDP, trong đó trái phiếu doanh nghiệp mới chiếm khoảng 11,6% GDP.

Ông Vương Thanh Long, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA) nhìn nhận, kênh tín dụng ngân hàng đang gánh quá nhiều trọng trách cung ứng vốn cho nền kinh tế. Vì vậy, thách thức cốt lõi không chỉ là thu hút thêm nguồn tiền, mà phải tái cân bằng cấu trúc tài chính, phát triển hạ tầng thị trường, công cụ nợ và mở rộng cơ sở nhà đầu tư.

Đại diện World Bank, bà Tina Khan cho rằng, không tồn tại một tỷ lệ cố định về cấu trúc tài chính tối ưu cho mọi quốc gia. Cấu trúc vốn phải phụ thuộc vào tính chất dự án, thời gian hoàn vốn và mức độ rủi ro. Tuy nhiên, nhu cầu đầu tư công và hạ tầng lớn trong những năm tới khiến việc tiếp tục dựa chủ yếu vào ngân hàng thương mại có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn.

Theo bà, tỷ lệ dư nợ trên tổng tiền gửi của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã lên tới 115%. Nếu ngân hàng tiếp tục gánh các khoản vay hạ tầng dài hạn, nguồn vốn có thể bị hút vào các dự án lớn hoặc bất động sản, làm giảm khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp vừa và nhỏ, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Đồng thời, việc sử dụng tiền gửi ngắn hạn để tài trợ cho vay dài hạn làm tăng chi phí vốn và rủi ro thanh khoản.

Vì thế, vấn đề là phải xây dựng thêm những kênh dẫn vốn, đặc biệt là trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu và nguồn vốn thể chế dài hạn.

Ông Ngô Thế Triệu, Phó Tổng thư ký VBMA, Tổng Giám đốc Optima Wealth Partners đồng tình, ngân hàng gánh vốn dài hạn tạo ra rủi ro kỳ hạn do nguồn huy động chủ yếu là ngắn hạn. Ông đề xuất phát triển trái phiếu dự án, trái phiếu hạ tầng và chứng khoán hóa những dự án đã vận hành, có dòng tiền ổn định, qua đó giải phóng hạn mức tín dụng để ngân hàng tái đầu tư vào dự án mới.

Cần thêm kênh dẫn vốn dài hạn

Một điểm đáng chú ý được bà Tina Khan nêu ra là Việt Nam không phải quốc gia thiếu tiền tiết kiệm. Tỷ lệ tiết kiệm gộp nội địa đạt 37% GDP, trong khi nhu cầu đầu tư khoảng 30% GDP. Theo bà, mỗi năm có khoảng 7% GDP tiền tiết kiệm chưa được dẫn dắt hiệu quả vào các kênh đầu tư dài hạn.

Bài toán vì vậy chuyển từ tìm kiếm nguồn tiền sang xây dựng cơ chế đưa nguồn tiền vào thị trường. Từ kinh nghiệm của Australia, Malaysia và Hàn Quốc, bà nhấn mạnh hai yếu tố: niềm tin vào năng lực quản trị chuyên nghiệp của các tổ chức quản lý quỹ và khả năng mở rộng danh mục đầu tư của quỹ hưu trí, bảo hiểm sang trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu, bất động sản và hạ tầng.

Ở góc độ thị trường quốc tế, ông Rico Zhang, Giám đốc cấp cao khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế (ICMA) cho rằng, phát triển tài chính trực tiếp là hướng đi chiến lược. Để thu hút nhà đầu tư vào thị trường trái phiếu nội tệ, Việt Nam cần xây dựng hệ sinh thái tài chính uy tín trên ba trụ cột.

Trước hết là đường cong lãi suất trái phiếu chính phủ đủ chuẩn và thanh khoản để làm cơ sở định giá trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu hạ tầng, đồng thời phát triển thị trường repo phục vụ quản trị thanh khoản và phòng ngừa rủi ro. Tiếp đó là khung pháp lý và chuẩn mực công bố thông tin bảo đảm minh bạch, khả năng dự báo và tính thực thi. Trụ cột còn lại là đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư, giảm sự phụ thuộc vào ngân hàng thương mại, mở rộng sang quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm và nhà đầu tư nước ngoài dài hạn.

Từ góc nhìn nhà đầu tư Nhật Bản, ông Isao Hishikawa, đại diện Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán Nhật Bản (JSDA) cho biết, các định chế như quỹ hưu trí và doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đặt yêu cầu cao đối với quản trị công ty, tính ổn định và khả năng dự báo của môi trường pháp lý, cùng các cơ chế giảm thiểu rủi ro và bảo lãnh.

Một hướng khác được ông Tạ Thanh Hòa, Giám đốc Khối Thị trường Tài chính, Standard Chartered Việt Nam đề cập là nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư. Theo thông tin ông dẫn từ các nghiên cứu của IMF, khi một quốc gia chuyển từ mức dưới đầu tư lên mức đầu tư, chi phí vay vốn ròng của toàn bộ nền kinh tế có thể giảm khoảng một phần ba.

Mức xếp hạng này còn có thể mở cơ hội tiếp cận các quỹ hưu trí, quỹ tài sản quốc gia vốn chỉ được đầu tư vào tài sản đạt hạng đầu tư, đồng thời tạo đường cong lãi suất chuẩn cho doanh nghiệp trong nước phát hành quốc tế.

Từ phía cơ quan quản lý, có 5 định hướng được ông Nguyễn Hoàng Dương nêu ra cũng tập trung vào yêu cầu tái cấu trúc thị trường: chuyển dần nhu cầu vốn trung, dài hạn từ tín dụng ngân hàng sang thị trường vốn; đa dạng hóa công cụ nợ bằng đồng nội tệ; xây dựng cơ sở nhà đầu tư tổ chức dài hạn; phát triển tài chính bền vững; chủ động hội nhập và nâng chuẩn quản trị.

Mục tiêu đến năm 2030 là vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 120% GDP, thị trường trái phiếu đạt 58% GDP, trong đó trái phiếu doanh nghiệp tối thiểu 25% GDP. Việc phát triển trái phiếu hạ tầng, trái phiếu dự án, trái phiếu chính quyền địa phương, chứng khoán hóa tài sản, cùng các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và doanh nghiệp bảo hiểm được đặt trong định hướng này.

TTCK Việt Nam đã được FTSE nâng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp. Nhưng trong bài toán vốn của giai đoạn tới, quy mô thị trường mới chỉ là một phần. Các ý kiến chuyên gia cùng hướng tới yêu cầu tạo thêm những kênh dẫn vốn dài hạn, nâng chất lượng hạ tầng, quản trị và cơ sở nhà đầu tư.

Câu chuyện tái cân bằng cấu trúc dẫn vốn vì thế gắn trực tiếp với khả năng huy động nguồn lực cho tăng trưởng: ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng, trong khi thị trường vốn cần chia sẻ ngày càng nhiều hơn nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/khoi-dong-von-dai-han-cho-tang-truong-188528.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.