![]() |
| Các doanh nghiệp cần nhanh chóng vượt qua thách thức kết nối 2 hệ thống dữ liệu kỹ thuật và báo cáo bền vững. Ảnh: ĐTCP |
Đối với thị trường xuất khẩu, theo cập nhật từ Bộ Công Thương ngày 17/7/2026, Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) chính thức áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với các doanh nghiệp quy mô lớn và vừa, và từ ngày 30/6/2027 đối với các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Quy định này áp dụng bắt buộc đối với 7 nhóm hàng hóa trọng điểm gồm gỗ, cà phê, cao su, ca cao, dầu cọ, đậu nành và gia súc, đòi hỏi doanh nghiệp phải truy xuất nguồn gốc đến từng lô đất sản xuất và chứng minh không liên quan đến hành vi phá rừng sau ngày 31/12/2020.
Tại thị trường trong nước, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 23/01/2026 quy định chi tiết thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và bắt đầu từ tháng 7/2026, các nhóm hàng hóa có mức rủi ro cao như thực phẩm, dược phẩm và vật tư nông nghiệp đã chính thức bắt buộc phải thực hiện đầy đủ các quy định về truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, các doanh nghiệp cần nhanh chóng vượt qua thách thức kết nối 2 hệ thống dữ liệu kỹ thuật và báo cáo bền vững, trọng tâm hướng vào 3 mục tiêu gồm nắm vững lộ trình tuân thủ, chuyển hóa dữ liệu sẵn có sang chuẩn mực ESG và xác lập lợi thế cạnh tranh dài hạn cho sản phẩm.
Theo nhận định của các chuyên gia, sự chuyển đổi căn bản của khung pháp lý mới theo Luật số 78/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 và Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, chuyển trọng tâm từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn liền với quản lý rủi ro. Sau khi thời hạn chuyển tiếp phân loại nhóm sản phẩm kết thúc vào hết ngày 30/6/2026, cơ chế quản lý theo mức độ rủi ro chính thức được áp dụng toàn diện, trong khi nhãn và bao bì cũ chỉ được phép tiếp tục sử dụng tối đa đến ngày 23/01/2028. Quy định mới cũng gắn chặt trách nhiệm lưu trữ hồ sơ của các mắt xích phân phối, trong đó các đơn vị bán lẻ phải lưu trữ dữ liệu tối thiểu 3 năm, còn các đơn vị vận hành nền tảng thương mại điện tử phải lưu trữ dữ liệu tối thiểu 5 năm và kết nối với Cổng dữ liệu quốc gia.
Đồng thời, về phương pháp phân loại rủi ro cho hàng hóa, các chuyên gia cũng hướng dẫn cách xác định dựa trên mức độ nguy hại tiềm ẩn đối với sức khỏe, môi trường kết hợp với xác suất xảy ra vi phạm trên thực tế được ghi nhận từ hoạt động giám sát thị trường.
Khả năng phát sinh mối nguy được định lượng căn cứ vào tỷ lệ xảy ra sự cố hoặc vi phạm cụ thể của sản phẩm trong quá trình lưu thông, từ mức độ an toàn cao khi không ghi nhận bất kỳ sự cố nào trong 5 năm, đến nhóm có tỷ lệ vi phạm từ 1% - 5%, nhóm có tỷ lệ vi phạm từ 5% - 15%, cho đến các mặt hàng có tần suất vi phạm rất cao vượt trên 15%. Căn cứ trên kết quả đánh giá tổng hợp, sản phẩm được phân định rõ ràng thành 3 nhóm gồm rủi ro thấp, rủi ro trung bình và rủi ro cao, trong đó nhóm rủi ro cao sẽ chịu sự kiểm soát đặc biệt và kiểm tra nghiêm ngặt khi nhập khẩu.
Ông Đặng Bùi Khuê, cố vấn cấp cao Công ty Tư vấn và Đào tạo SMP cho biết, để bảo đảm tính tương thích kỹ thuật, doanh nghiệp cần đáp ứng đầy đủ 9 trường dữ liệu bắt buộc trong hệ thống truy xuất nguồn gốc và áp dụng chuẩn mã định danh toàn cầu GTIN-13 bắt đầu bằng tiền tố quốc gia 893.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc do doanh nghiệp thiết lập phải được đánh giá và công bố hợp chuẩn, với giấy chứng nhận có hiệu lực trong 3 năm và chịu sự giám sát định kỳ hằng năm.
“Các dữ liệu kỹ thuật và các chỉ số bền vững có mối liên hệ chặt chẽ, các doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường châu Âu cần nắm rõ cách thức ứng dụng Bộ tiêu chuẩn GRI để lượng hóa trách nhiệm chuỗi giá trị, trọng tâm là Tiêu chuẩn ngành GRI 13 với chủ đề số 13.23 về truy xuất chuỗi cung ứng. Để báo cáo ESG có giá trị kiểm chứng, doanh nghiệp cần xác định rõ mức độ bao phủ dựa trên tỷ lệ phần trăm khối lượng hàng hóa có thể truy xuất, đồng thời mở rộng độ sâu truy vết qua 4 cấp độ từ cấp quốc gia, khu vực, địa phương đến điểm xuất xứ cụ thể của từng nông trại hay vùng nguyên liệu”, ông Khuê phân tích
Bên cạnh đó, ông Phạm Hải Nam, chuyên gia Quản lý kỹ thuật ESG còn nhấn mạnh thêm chỉ số kiểm soát nguồn cung hàng hoá theo tiêu chuẩn được xác định minh bạch bằng tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng nguyên liệu đã được chứng nhận đạt chuẩn trên tổng khối lượng nguyên liệu mà các doanh nghiệp thu mua. Dựa trên việc rà soát để phát hiện các khoảng trống truy xuất, doanh nghiệp sẽ đánh giá nguyên nhân và tổ chức đào tạo nhằm nâng cao năng lực cho các nhà cung ứng chưa đạt yêu cầu, qua đó từng bước gia tăng tỷ lệ phần trăm nguồn cung nguyên liệu được kiểm soát an toàn trước khi xuất hàng đi.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/minh-bach-chuoi-cung-ung-lieu-canh-cua-vao-thi-truong-chau-au-co-bi-thu-hep-188751.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.