![]() |
| Báo cáo “Kinh tế vĩ mô Việt Nam" do Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh công bố ngày càng thu hút các nhà nghiên cứu tham gia |
Xuất khẩu công nghệ hưởng lợi
Báo cáo “Kinh tế vĩ mô Việt Nam 9 tháng đầu năm 2026 và lộ trình tăng trưởng hai con số bền vững” được nhóm nghiên cứu Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh công bố tại hội thảo chiều 12/10 cho thấy, làn sóng đầu tư AI trên thế giới đang tạo thêm nhu cầu đối với các sản phẩm điện tử, máy tính, linh kiện và thiết bị công nghệ mà Việt Nam tham gia sản xuất, xuất khẩu.
Theo số liệu báo cáo tổng hợp, trong 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu điện tử, máy tính và linh kiện đạt khoảng 101,06 tỷ USD, tăng 51,1% so với cùng kỳ. Đây là nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng nổi bật, phản ánh nhu cầu gia tăng đối với thiết bị và linh kiện phục vụ hạ tầng công nghệ toàn cầu.
Trong 9 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến đạt 392,79 tỷ USD, chiếm 90,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, khu vực FDI vẫn chiếm tới 80,7% kim ngạch xuất khẩu, cho thấy khả năng tạo giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế.
Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên Đại học Fulbright Việt Nam cho rằng, triển vọng tăng trưởng công nghiệp chế biến, chế tạo hướng vào xuất khẩu tiếp tục là động lực quan trọng trong quý IV/2026. Việt Nam đang trở thành mắt xích trong chuỗi cung ứng linh kiện và thiết bị phục vụ làn sóng đầu tư trung tâm dữ liệu, AI tại Hoa Kỳ, Trung Quốc và nhiều thị trường khác.
Theo ông Thành, nếu trước đây hoạt động sản xuất điện tử của Việt Nam chủ yếu gắn với điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính xách tay thì hiện nay đã có sự dịch chuyển sang các sản phẩm liên quan đến thiết bị viễn thông, bộ nhớ và hạ tầng công nghệ.
Sự chuyển dịch này góp phần mở rộng xuất khẩu, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, phần lớn hoạt động sản xuất vẫn tập trung ở khâu lắp ráp, trong khi làn sóng đầu tư AI toàn cầu có thể hạ nhiệt sau giai đoạn tăng trưởng nóng.
Báo cáo của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cũng lưu ý, mức độ liên kết, chuyển giao công nghệ và năng lực tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Vì vậy, tận dụng dòng vốn và đơn hàng công nghệ cần gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và năng lực đổi mới sáng tạo.
Tăng năng suất để duy trì tăng trưởng cao
Bên cạnh cơ hội xuất khẩu, GS.TS. Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ sản xuất phục vụ AI sang ứng dụng AI để nâng cao năng suất thực chất của nền kinh tế.
Ông Trung nhận định, Việt Nam tham gia sản xuất các sản phẩm phục vụ AI toàn cầu chưa đồng nghĩa công nghệ này đã tạo ra bước nhảy năng suất cho doanh nghiệp trong nước. Ứng dụng AI hiện chủ yếu tập trung ở một số doanh nghiệp lớn, khu vực FDI, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế về vốn, dữ liệu, quy trình và nhân lực.
Trong khi đó, AI có thể hỗ trợ nhiều ngành nâng hiệu quả hoạt động, từ dự báo lỗi, tối ưu vận hành trong sản xuất đến quản trị logistics, giám sát mùa vụ, tự động hóa quy trình trong tài chính, thương mại và dịch vụ công.
Bình luận về nội dung này, GS. Lê Quốc Hội, Tổng Biên tập Tạp chí Journal of Economics and Development (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân), cho rằng Việt Nam có hai cơ hội hưởng lợi từ AI. Thứ nhất là tham gia sản xuất linh kiện, thiết bị phục vụ nhu cầu đầu tư công nghệ trên thế giới. Quan trọng hơn về dài hạn là ứng dụng AI vào hoạt động kinh tế để hình thành nền tảng tăng trưởng dựa trên năng suất và năng lực cạnh tranh.
Theo GS. Hội, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đòi hỏi huy động thêm nguồn lực mà còn phải chuyển hóa những nguồn lực đó thành năng lực tăng trưởng bền vững. Điều này đặt ra yêu cầu lựa chọn ngành nghề ưu tiên, đầu tư công nghệ và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn.
Đáng chú ý, GS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho biết nhóm nghiên cứu đã xây dựng báo cáo chuyên sâu đánh giá tác động tiềm năng của AI đối với kinh tế Việt Nam, với ba kịch bản thận trọng, trung bình và cao. Trong kịch bản cao, AI được ước tính có thể đóng góp tới 3 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP.
Theo GS. Đạt, nếu mục tiêu tăng trưởng GDP là 10%/năm, trong kịch bản hiệu quả nhất, AI có thể tạo ra một phần đóng góp đáng kể vào mục tiêu này. Dù đây là kết quả dự báo, chưa phải mức đóng góp thực tế, nghiên cứu cho thấy tiềm năng của AI trong việc bổ sung động lực tăng trưởng mới.
Để tận dụng cơ hội đó, ông Nguyễn Xuân Thành nhấn mạnh yêu cầu ưu tiên phát triển hạ tầng năng lượng, viễn thông và trung tâm dữ liệu, thay vì chỉ tập trung mở rộng các công trình hạ tầng truyền thống.
Phân tích của các chuyên gia được đặt trong bức tranh kinh tế 9 tháng năm 2026 với GDP tăng 9,01%, cao hơn mức 7,80% cùng kỳ năm 2025. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, trong khi tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng 15,1%.
Theo nhóm nghiên cứu Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, giai đoạn 2026–2027 cần duy trì động lực tăng trưởng, nâng hiệu quả đầu tư công, đồng thời kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Giai đoạn 2028–2030 cần chuyển trọng tâm sang nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, phát triển doanh nghiệp nội địa và đổi mới sáng tạo.
Về dài hạn, các chuyên gia cho rằng khả năng duy trì tăng trưởng cao sẽ phụ thuộc ngày càng lớn vào năng suất và năng lực công nghệ thay vì chỉ mở rộng vốn đầu tư. Trong quá trình đó, AI được kỳ vọng không chỉ góp phần gia tăng xuất khẩu mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
![]() |
| Tóm tắt Báo cáo kinh tế Việt Nam 9 tháng năm 2025 của Nhóm nghiên cứu Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh. |
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/kinh-te-ai-noi-rong-du-dia-tang-truong-hai-con-so-188890.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.