Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đặt mục tiêu đến năm 2030, cả nước có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động. Đây là định hướng quan trọng, nhưng việc hiện thực hóa không thể chỉ dựa vào số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Khả năng tồn tại, tích lũy và phát triển của những doanh nghiệp đang hoạt động cũng quyết định chất lượng tăng trưởng.
![]() |
| Tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại so với doanh nghiệp rút lui có xu hướng thu hẹp qua các giai đoạn. Ảnh minh họa |
Theo Cục Thống kê, năm 2025, cả nước có gần 297.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi khoảng 227.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Trong 9 tháng năm 2026, hai nhóm tương ứng đạt hơn 223.900 và khoảng 172.000 doanh nghiệp. Bình quân mỗi tháng có gần 25.000 doanh nghiệp gia nhập hoặc quay trở lại, nhưng cũng hơn 19.000 doanh nghiệp rút lui.
Cần lưu ý, số rút lui bao gồm cả doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, không đồng nghĩa tất cả đều giải thể vĩnh viễn. Tuy vậy, khoảng cách giữa hai nhóm chưa lớn cho thấy việc duy trì hoạt động vẫn là thách thức, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa có nguồn lực dự phòng hạn chế.
Theo nhận định của TS. Nguyễn Đình Cung, chuyên gia kinh tế, tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại so với doanh nghiệp rút lui có xu hướng thu hẹp qua các giai đoạn. Ông lưu ý rằng chỉ chú trọng số thành lập mới, trong khi chưa quan tâm đầy đủ đến doanh nghiệp rời thị trường, sẽ khiến mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân khó đạt như kỳ vọng.
Nhìn từ góc độ chính sách, điều quan trọng không chỉ là có thêm doanh nghiệp trên giấy đăng ký mà là tạo điều kiện để doanh nghiệp có đơn hàng, duy trì việc làm, cải thiện năng suất và mở rộng thị trường. Khi một doanh nghiệp ngừng hoạt động, tác động còn lan tới người lao động, nhà cung cấp và những mắt xích liên quan trong chuỗi sản xuất.
Vì vậy, mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp cần được thực hiện đồng thời theo nhiều hướng: khuyến khích khởi nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp đang hoạt động vượt khó và tạo điều kiện cho hộ kinh doanh đủ năng lực chuyển đổi. Việc theo dõi thường xuyên số doanh nghiệp gia nhập, tạm ngừng, quay trở lại và giải thể cũng giúp cơ quan quản lý nhận diện đúng vấn đề để điều chỉnh chính sách.
Cải cách thực chất để doanh nghiệp yên tâm đầu tư
Môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và dễ dự đoán là điều kiện thiết yếu để doanh nghiệp quyết định đầu tư dài hạn. Ngoài chính sách ưu đãi, doanh nghiệp còn quan tâm đến thời gian giải quyết thủ tục, chi phí tuân thủ, khả năng tiếp cận đất đai, nguồn nhân lực và sự nhất quán khi thực thi quy định.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, mỗi thủ tục kéo dài đều có thể làm tăng chi phí, chậm tiến độ sản xuất và ảnh hưởng dòng tiền. Vì thế, hiệu quả cải cách cần được đo bằng trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp: hồ sơ có được xử lý nhanh hơn, yêu cầu giấy tờ có rõ ràng hơn và chi phí phát sinh có giảm hay không.
Kết quả Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2025 ghi nhận Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Phú Thọ và Quảng Ninh trong nhóm địa phương có chất lượng điều hành tốt. Những kết quả này cho thấy nỗ lực cải thiện thủ tục, tăng tính minh bạch và đồng hành với nhà đầu tư có ý nghĩa thiết thực đối với sức hấp dẫn của môi trường kinh doanh.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), ngày càng nhiều địa phương sử dụng kết quả PCI để rà soát chất lượng điều hành, nhận diện hạn chế cần khắc phục, thay vì chỉ chú ý thứ hạng. Cách tiếp cận này khuyến khích địa phương chuyển từ cam kết cải cách sang cải thiện cụ thể trong phục vụ doanh nghiệp.
Tuy nhiên, ban hành kế hoạch mới là bước đầu. Nếu quy trình thực hiện thiếu thống nhất hoặc doanh nghiệp phải mất thêm thời gian hoàn thiện hồ sơ, hiệu quả chính sách sẽ bị giảm sút. Do đó, cần gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả cải cách, tăng đối thoại và giải quyết vướng mắc ngay từ cơ sở.
Cùng với cải thiện thủ tục, chính sách cần tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án đầu tư công. Khi có thị trường đầu ra ổn định, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư máy móc, nâng chất lượng sản phẩm và từng bước nâng vị thế trong chuỗi giá trị.
Ngân hàng đồng hành, doanh nghiệp nâng sức chống chịu
Trong quá trình duy trì và mở rộng sản xuất, vốn và dòng tiền có vai trò đặc biệt quan trọng. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời chú trọng đưa tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng.
Các ngân hàng thương mại tích cực cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ, phát triển dịch vụ thanh toán và quản lý dòng tiền, qua đó giúp doanh nghiệp giao dịch thuận tiện, tiết kiệm thời gian và chi phí. Những giải pháp số còn hỗ trợ doanh nghiệp theo dõi dòng tiền, nâng hiệu quả quản trị và chủ động hơn trong kế hoạch sử dụng vốn.
Theo PGS.TS. Lê Đức Hoàng, cần tiếp tục phát huy vai trò quỹ bảo lãnh tín dụng, đồng thời mở rộng các hình thức cho vay dựa trên dòng tiền và hóa đơn, bên cạnh phương thức cấp tín dụng truyền thống. Đây là hướng đề xuất nhằm đa dạng hóa kênh tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của từng nhóm khách hàng.
Trên thực tế, việc đánh giá khả năng trả nợ không chỉ gắn với tài sản bảo đảm mà còn cần xem xét phương án kinh doanh, lịch sử giao dịch và dòng tiền. Đổi mới phương thức phục vụ khách hàng, đi đôi với tuân thủ quy định và bảo đảm an toàn tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn cho nền kinh tế.
Sự đồng hành của ngân hàng sẽ phát huy tốt hơn khi doanh nghiệp chủ động minh bạch báo cáo tài chính, quản lý công nợ, xây dựng phương án sử dụng vốn khả thi và nâng cao năng lực quản trị. Thông tin đáng tin cậy giúp ngân hàng đánh giá rủi ro chính xác hơn, còn doanh nghiệp có thêm cơ sở lựa chọn sản phẩm tài chính phù hợp với chu kỳ sản xuất.
Bên cạnh tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp cần tăng vốn chủ sở hữu và tìm kiếm nguồn vốn trung, dài hạn phù hợp để tránh phụ thuộc quá mức vào vốn vay ngắn hạn. Sự phát triển đồng bộ của thị trường vốn, các quỹ bảo lãnh và hoạt động kết nối ngân hàng - doanh nghiệp sẽ góp phần mở rộng khả năng huy động nguồn lực cho khu vực tư nhân.
Đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp không đơn thuần là gia tăng số lượng đăng ký kinh doanh. Khi cải cách được thực thi nhất quán, hệ thống ngân hàng tiếp tục đồng hành và doanh nghiệp chủ động đổi mới, nhiều đơn vị sẽ có điều kiện duy trì hoạt động, tích lũy nguồn lực và phát triển bền vững. Đó mới là nền tảng để kinh tế tư nhân đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/muc-tieu-2-trieu-doanh-nghiep-lam-sao-de-y-tuong-khoi-nghiep-khong-roi-cuoc-choi-189106.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.