| Áp lực môi trường gia tăng, đòi hỏi hành động quyết liệt hơn Kiến tạo hạ tầng năng lượng thông minh cho kỷ nguyên tăng trưởng xanh |
Doanh nghiệp chuyển đổi xanh không chỉ cần vốn
Ông Nguyễn Hữu Tú, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần MIZA cho biết, khi lựa chọn chuyển đổi xanh, doanh nghiệp không chỉ phải chuẩn bị nguồn lực tài chính mà còn phải chứng minh được hiệu quả công nghệ, thị trường đầu ra và khả năng tạo dòng tiền của dự án. MIZA cũng từng phải sử dụng vốn theo mặt bằng thị trường trong giai đoạn đầu và trải qua nhiều vòng làm việc với ngân hàng để chứng minh tính khả thi của dự án. Khi hiệu quả công nghệ và phương án tài chính dần được làm rõ, doanh nghiệp đã tiếp cận được tín dụng xanh, phát hành thành công trái phiếu xanh và có thêm đối tác cấp vốn với điều kiện tốt hơn.
Câu chuyện của MIZA cho thấy, để tiếp cận vốn xanh, mục tiêu giảm thiểu tác động đến môi trường là chưa đủ. Doanh nghiệp còn phải chứng minh dự án có tính khả thi, sản phẩm có thị trường, nguồn thu đủ bù đắp chi phí và bảo đảm khả năng trả nợ trong thời gian hoàn vốn.
Thực tế, trong thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp để khơi thông dòng vốn xanh cho doanh nghiệp. Ông Trần Anh Quý, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng (NHNN) cho biết, qua theo dõi huy động vốn phục vụ tăng trưởng xanh, ngân hàng không thiếu nguồn vốn cho lĩnh vực này. Ngoài huy động vốn trong nước, các ngân hàng thương mại đã hợp tác với tổ chức tài chính quốc tế, tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật và thu xếp hạn mức để bổ sung nguồn lực.
Theo số liệu thống kê, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng xanh đạt trên 856 nghìn tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025. Giai đoạn 2017- 2025, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 20% mỗi năm. Dư nợ tín dụng đã được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 6,2 triệu tỷ đồng, chiếm trên 31,33% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.
Tuy nhiên, nhu cầu vốn cho quá trình chuyển đổi xanh còn rất lớn. Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho biết, Việt Nam cần khoảng 368 tỷ USD đầu tư bổ sung đến năm 2040 cho thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu và giảm phát thải, tương đương 6,8% GDP mỗi năm. Trong đó, khoảng 254 tỷ USD dành cho thích ứng và nâng cao khả năng chống chịu, 114 tỷ USD cho giảm phát thải. Quy mô nhu cầu lớn, song theo ông Giáp, vốn chỉ được giải ngân khi dự án chứng minh được hiệu quả, khả năng trả nợ và kết quả giảm phát thải có thể kiểm chứng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần chuẩn bị dự án kỹ lưỡng, thay vì chỉ tập trung chứng minh mục tiêu môi trường.
Ở góc độ tư vấn, ông Nguyễn Việt Long, Phó Tổng Giám đốc Tư vấn EY Việt Nam cho rằng, có sự khác biệt giữa doanh nghiệp chủ động đưa các tiêu chí xanh vào dự án ngay từ đầu và dự án chỉ bổ sung các yêu cầu này khi tìm nguồn tài trợ. Nếu không xác định tiêu chí từ sớm, khi bên cấp vốn đưa ra yêu cầu, chủ đầu tư có thể phải tính lại tổng mức đầu tư, làm lại hồ sơ, kéo dài thời gian, thậm chí phải dừng dự án.
Theo ông Long, ngân hàng không chỉ xem xét yếu tố xanh mà còn đánh giá bảng cân đối kế toán, khả năng trả nợ và sức chịu đựng tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, hồ sơ cần thể hiện rõ vốn tự có, báo cáo tài chính được kiểm toán, dự toán dòng tiền và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Việc chuẩn bị đồng thời phương án công nghệ và tài chính sẽ giúp doanh nghiệp tránh điều chỉnh tốn kém khi tiếp cận vốn.
![]() |
| Sự phát triển của thị trường các-bon có thể góp phần giảm áp lực lên nguồn vốn tín dụng xanh |
Tạo nguồn thu các-bon trên nền dữ liệu tin cậy
Tín dụng xanh đã được đẩy mạnh trong những năm qua, song nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh còn rất lớn và kéo dài, khó có thể chỉ dựa vào nguồn vốn ngân hàng. Bên cạnh việc đa dạng hóa các nguồn tài chính, thị trường các-bon đang mở thêm cơ hội để doanh nghiệp tạo nguồn thu từ chính kết quả giảm phát thải.
Ngày 29/1/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP quy định về sàn giao dịch các-bon trong nước, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức, vận hành thị trường và giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon. Thị trường được đưa vào vận hành từ ngày 29/6/2026, với hơn 511 triệu tấn CO₂ tương đương hạn ngạch phát thải được phân bổ cho các cơ sở thuộc ba ngành nhiệt điện, sắt thép và xi măng trong giai đoạn 2025 - 2026. Giai đoạn thí điểm kéo dài đến hết năm 2028 trước khi chuyển sang vận hành bắt buộc toàn diện từ năm 2029. Các ngân hàng thương mại tham gia với vai trò ngân hàng thanh toán; trong giai đoạn thí điểm, BIDV là ngân hàng thanh toán duy nhất trên thị trường.
Sự hình thành của thị trường các-bon cũng mở thêm một hướng tạo nguồn thu cho doanh nghiệp từ kết quả giảm phát thải, qua đó đặt ra mối liên hệ ngày càng rõ hơn với tín dụng xanh. Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết, tín dụng xanh cung cấp vốn cho đầu tư, đổi mới công nghệ và phát triển các ngành, lĩnh vực xanh, từ đó tạo ra kết quả giảm phát thải. Những kết quả này là cơ sở hình thành hàng hóa cho thị trường các-bon. Ở chiều ngược lại, thị trường các-bon vận hành hiệu quả có thể bổ sung nguồn thu cho doanh nghiệp từ kết quả giảm phát thải, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh và góp phần nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng. “Khi thị trường các-bon vận hành hiệu quả, kết quả giảm phát thải có thể được chuyển hóa thành nguồn lực tài chính cho chính doanh nghiệp. Theo đó, sự phát triển của thị trường các-bon có thể góp phần giảm áp lực lên nguồn vốn tín dụng xanh”, Phó Thống đốc cho biết.
Nguồn thu từ giảm phát thải chỉ hình thành khi kết quả giảm phát thải được đo lường, xác nhận và có thể giao dịch trên thị trường. Theo ông Đặng Thái An Trang, Phó Tổng Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, ý nghĩa quan trọng của thị trường các-bon là đưa tín hiệu vào quyết định kinh doanh, giúp doanh nghiệp lượng hóa lợi ích trong đầu tư dài hạn. Cơ chế đo lường, báo cáo, thẩm định phải bảo đảm chất lượng hàng hóa; hoạt động vận hành cần gắn với công bố thông tin, giám sát và ngăn ngừa thao túng. Tuy nhiên, một tín chỉ có thể giao dịch trên thị trường chưa đồng nghĩa nguồn thu từ tín chỉ đó có thể được ngân hàng mặc nhiên tính vào phương án trả nợ. Ông Bùi Minh Giáp lưu ý, TCTD vẫn phải đánh giá khả năng được cấp tín chỉ, sản lượng thực tế, người mua, giá bán, chi phí xác minh và thời điểm nhận tiền. Hợp đồng mua dài hạn có thể giảm rủi ro đầu ra nhưng không bảo đảm doanh nghiệp sẽ tạo ra và giao đủ lượng tín chỉ. Do đó, giá trị các-bon chỉ có thể bổ sung cho phương án trả nợ khi quyền hưởng lợi rõ ràng và dòng tiền có khả năng thu hồi. Việc tính doanh thu quá lạc quan có thể khiến dự án chịu thêm áp lực nếu giá giảm hoặc người mua chậm thanh toán.
Khả năng đưa nguồn thu này vào phương án tài chính còn phụ thuộc vào việc xác định rõ tín chỉ thuộc về ai và lợi ích được phân chia như thế nào. TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó trưởng Ban Chỉ đạo ESG Agribank cho rằng cần làm rõ quyền sở hữu, quyền định đoạt và quyền hưởng lợi đối với kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon. Đồng thời, phải hoàn thiện cơ chế xử lý khoản phải thu, giao dịch bảo đảm và các vấn đề kế toán, thuế, ngoại hối liên quan. Trong nông nghiệp, khó khăn còn nằm ở chi phí đo lường, báo cáo, thẩm định (MRV) đối với hộ sản xuất nhỏ, hợp tác xã và vùng nguyên liệu. Nếu mỗi chủ thể phải tự chuẩn bị, xác minh dữ liệu, chi phí tiếp cận vốn có thể trở thành gánh nặng ngay trước khi đầu tư. Vì vậy, theo bà Hà, cần phát triển nền tảng dữ liệu dùng chung, chuẩn hóa thông tin từ đầu dự án và giảm chi phí MRV. Chính quyền địa phương cần hỗ trợ kỹ thuật theo vùng sản xuất, đo lường phát thải từ đầu vào đến đầu ra. Việc hỗ trợ cũng phải gắn với thị trường tiêu thụ, bởi chi phí sản xuất xanh cao hơn chỉ bền vững khi người sản xuất có đầu ra phù hợp.
Bên cạnh nền tảng dữ liệu dùng chung, ông Nguyễn Việt Long cũng cho rằng cần phát triển các tổ chức độc lập, trong đó có tổ chức xếp hạng tín nhiệm, để giảm chi phí kết nối bên cung cấp vốn với bên có nhu cầu. Đầu tư cơ sở dữ liệu và cổng kết nối thông tin sẽ giúp giảm phần việc doanh nghiệp, cán bộ tín dụng phải chuẩn bị riêng lẻ. Với hộ sản xuất, hợp đồng cần quy định rõ chi phí, quyền dữ liệu và quyền hưởng doanh thu, bảo đảm người chuyển đổi được hưởng lợi.
| Ông Bùi Minh Giáp - Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam Hỗ trợ vốn xanh phải đi đôi với kiểm soát rủi ro tín dụng
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một mô hình chung phù hợp với mọi quốc gia trong thúc đẩy tài chính xanh. Trên thế giới, một số ngân hàng trung ương hỗ trợ trực tiếp nguồn vốn; số khác tập trung giám sát rủi ro, duy trì hệ thống dữ liệu và nâng cao năng lực TCTD. Đáng chú ý ở Trung Quốc kết hợp hai hướng này thông qua công cụ tài trợ giảm phát thải giai đoạn 2021–2027. Với khoản vay đủ điều kiện cho năng lượng sạch, tiết kiệm năng lượng và công nghệ giảm phát thải, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cấp nguồn vốn lãi suất thấp, tương đương 60% giá trị khoản vay. Hay tại Nhật Bản áp dụng cơ chế cấp vốn cho TCTD dựa trên quy mô khoản vay và dự án đáp ứng điều kiện ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngân hàng Trung ương châu Âu đưa rủi ro khí hậu vào giám sát ngân hàng, phân tích kịch bản và đánh giá tác động rủi ro… Theo tôi, bài học cho Việt Nam là kết hợp hỗ trợ đầu tư với quản lý rủi ro. Trước hết, cần củng cố tiêu chí, dữ liệu và năng lực thẩm định; sau đó có thể thí điểm hỗ trợ nguồn vốn cho khoản vay đủ điều kiện. Dù sử dụng công cụ nào, TCTD vẫn phải tự thẩm định và chịu trách nhiệm về chất lượng khoản vay. Danh mục tài trợ cần bao gồm cả hoạt động xanh và hoạt động chuyển đổi. Nhóm thứ hai chưa đáp ứng tiêu chí xanh nhưng phải có kế hoạch giảm phát thải khả thi, mục tiêu, thời hạn rõ ràng và kết quả có thể kiểm chứng. Ngân hàng là kênh dẫn vốn quan trọng, song cần kết hợp với trái phiếu xanh, trái phiếu tài trợ chuyển đổi, vốn cổ phần, tài chính hỗn hợp và bảo lãnh. Mỗi loại rủi ro cần được phân bổ cho bên có khả năng quản lý tốt nhất. TS. Nguyễn Tú Anh -Giám đốc Nghiên cứu Chính sách, Trường Đại học VinUni Hoàn thiện cơ chế để thúc đẩy dòng vốn xanh
Nhu cầu vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam rất lớn, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và đa dạng hóa các kênh huy động tài chính để doanh nghiệp thuận lợi hơn trong tiếp cận vốn. Một trong những vấn đề cần quan tâm là chi phí đánh giá, xác nhận dự án xanh. Để đáp ứng các tiêu chí xanh, dự án phải trải qua quá trình thẩm định của các tổ chức chuyên môn với chi phí tương đối lớn. Vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế xác nhận dự án xanh có ý nghĩa quan trọng trong thúc đẩy dòng vốn vào lĩnh vực này. Vai trò của Chính phủ trong phát triển thị trường tài chính xanh cũng rất đáng chú ý. Hoạt động nghiên cứu phát hành trái phiếu xanh của Chính phủ có thể góp phần hình thành đường cong lãi suất và mức lãi suất tham chiếu cho các công cụ tài chính xanh, qua đó tạo thêm điều kiện để thị trường phát triển. Việc ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí xác nhận dự án xanh là một bước tiến trong hoàn thiện cơ sở pháp lý, cần tiếp tục được triển khai để phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Cùng với đó, các công cụ chính sách và hình thức hỗ trợ vốn cũng có thể đóng góp vào quá trình phát triển tín dụng xanh. Về phía NHNN, bên cạnh công cụ tái cấp vốn, có thể nghiên cứu các cơ chế đồng tài trợ, bảo lãnh phù hợp nhằm hỗ trợ những dự án đáp ứng tiêu chí xanh và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực phát triển bền vững. Một hướng đi đáng quan tâm khác là phát triển thị trường tín chỉ các-bon, hướng tới sự kết nối giữa thị trường trong nước và quốc tế. Khi doanh nghiệp đầu tư công nghệ, triển khai các hoạt động giảm phát thải và tạo ra tín chỉ các-bon, việc có cơ chế giao dịch phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp khai thác giá trị kinh tế từ những kết quả này, góp phần thu hồi vốn đầu tư. Chuyển đổi xanh đang đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ trong giai đoạn đầu, đồng thời phát triển đồng bộ các kênh tài chính từ tín dụng xanh, trái phiếu xanh đến thị trường tín chỉ các-bon, tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp tham gia quá trình chuyển đổi và phát triển bền vững. Ông Lê Hoài Ân - CFA, Founder IFSS, chuyên gia đào tạo và tư vấn hoạt động ngân hàng Vốn xanh cần một cấu trúc tài chính phù hợp
Tín dụng xanh đang trở thành một phân khúc tăng trưởng nhanh trong hoạt động ngân hàng. Đến tháng 6/2026, 82 TCTD đã phát sinh dư nợ tín dụng xanh. Giai đoạn 2017–2025, tín dụng xanh tăng bình quân trên 20% mỗi năm. Trong cơ cấu dư nợ, hơn 30% tập trung vào năng lượng xanh và trên 32% thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học. Tuy nhiên, để khơi thông vốn xanh không chỉ trông chờ vào giảm lãi suất. Lãi suất thấp không thể giúp một dự án thiếu dòng tiền bảo đảm khả năng trả nợ, cũng không giải quyết được bài toán kỳ hạn đối với những dự án kéo dài 15-20 năm. Vấn đề quan trọng hơn là thiết kế cấu trúc tài chính phù hợp với đặc điểm dòng tiền, kỳ hạn và mức độ rủi ro của từng dự án. Điều cần thiết hơn là xây dựng một cấu trúc tài chính trong đó từng nhóm nhà đầu tư đảm nhận phần rủi ro phù hợp. Ngân hàng có thể tài trợ cho phần dự án có dòng tiền ổn định, thị trường trái phiếu cung cấp nguồn vốn dài hạn, các quỹ đầu tư và vốn chủ sở hữu chấp nhận rủi ro cao hơn ở giai đoạn đầu, trong khi các tổ chức tài chính phát triển hoặc cơ chế bảo lãnh có thể hỗ trợ chia sẻ một phần rủi ro. |
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/ngan-hang-khong-thieu-nguon-von-cho-tang-truong-xanh-189119.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.