Thưa ông, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, NHNN yêu cầu các ngân hàng tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận để giảm mặt bằng lãi suất, trong đó tập trung giảm lãi suất cho vay từ 1,5–2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên. Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa của yêu cầu này đối với việc giảm chi phí vốn, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh?
Việc NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi nhuận và tập trung giảm lãi suất cho vay từ 1,5–2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên mang ý nghĩa thiết thực. Chi phí vốn thấp hơn giúp doanh nghiệp cải thiện dòng tiền, duy trì sản xuất, khôi phục đơn hàng và dành thêm nguồn lực đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng năng suất.
Chỉ đạo của NHNN đặt giảm lãi suất trong mối liên hệ với chi phí huy động. Theo văn bản số 9608/NHNN-CSTT ngày 18/10/2026, ngân hàng được yêu cầu giảm tối thiểu 0,5%/năm lãi suất tiền gửi niêm yết từ kỳ hạn sáu tháng trở lên, đồng thời tránh cạnh tranh huy động thiếu lành mạnh. Mức giảm cho vay 1,5–2%/năm cần hướng tới lĩnh vực và khách hàng đủ điều kiện, không áp dụng đồng loạt. Tuy vậy, hiệu quả còn tùy thuộc cân đối vốn và rủi ro khách hàng. Cần xem xét cả khoản vay hiện hữu đủ điều kiện để giảm chi phí đang phát sinh, đồng thời thông tin rõ điều kiện hưởng ưu đãi, bảo đảm doanh nghiệp tiếp cận minh bạch.
![]() |
| Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi |
Từ nay đến cuối năm, ông dự báo việc điều hành lãi suất sẽ chịu tác động từ những yếu tố nào? Theo ông, NHNN cần chú trọng những gì để thúc đẩy giảm lãi suất cho vay, đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm ổn định thị trường tiền tệ và an toàn hệ thống ngân hàng?
Áp lực cuối năm đòi hỏi nhìn nhận thận trọng. Nhu cầu tín dụng thường tăng theo chu kỳ khi doanh nghiệp cần vốn nhập nguyên liệu, thanh toán đơn hàng, bổ sung hàng tồn kho và hoàn thành kế hoạch sản xuất. Huy động tiền gửi cũng chịu sức ép khi ngân hàng cạnh tranh nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vay và bảo đảm cân đối kỳ hạn. Vì vậy, cần xét đồng thời thanh khoản, tín dụng, tiền gửi và chi phí vốn.
Chính sách quốc tế cũng là biến số quan trọng. Fed chưa phát tín hiệu nới lỏng rõ ràng, nếu lạm phát Mỹ dai dẳng, lãi suất cao có thể được duy trì và khả năng tăng thêm vẫn có thể được cân nhắc. Diễn biến này tác động tới USD, tỷ giá, dòng vốn và dư địa chính sách trong nước; IMF cũng cảnh báo áp lực lợi suất toàn cầu tại châu Á. Do đó, điều hành cần linh hoạt theo nhiều kịch bản.
Giảm lãi suất cần được tạo dư địa từ nhiều phía. Ngân hàng cần rà soát chi phí, cải thiện quy trình, ứng dụng công nghệ và tiết giảm khoản chi chưa cần thiết, vẫn bảo đảm chất lượng dịch vụ và an toàn. Cùng với đó là chia sẻ lợi nhuận hợp lý với khách hàng đủ điều kiện, nhất là doanh nghiệp có phương án khả thi, dòng tiền rõ và khả năng trả nợ phù hợp. Công khai điều kiện và mức giảm giúp doanh nghiệp dự tính chi phí vốn.
Chất lượng tín dụng và thu hồi nợ cũng mở rộng dư địa. Đôn đốc nợ đến hạn, xử lý nợ xấu và ngăn nợ mới phát sinh giúp giảm tổn thất, chi phí dự phòng. Thu hồi nợ không tự động tạo nguồn vốn mới hay bảo đảm lãi suất giảm ngay nhưng chất lượng tài sản tốt hơn giúp ngân hàng định giá vốn sát rủi ro thực tế. Ngân hàng cũng đa dạng hóa nguồn thu giúp giảm phụ thuộc vào lãi.
Tuy nhiên, hỗ trợ doanh nghiệp cần song hành với an toàn hệ thống. NHNN cần điều hành thanh khoản linh hoạt, phối hợp tiền tệ với tài khóa, theo dõi lạm phát, tỷ giá và chất lượng tín dụng. Giảm lãi suất cần đi cùng tiêu chí minh bạch, giám sát thực chất, phân bổ vốn đúng nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, phải giữ kỷ luật tín dụng, không hạ chuẩn thẩm định, không chạy theo tăng dư nợ, kiểm soát rủi ro tập trung và mất cân đối kỳ hạn. Qua đó, hỗ trợ tăng trưởng mà không tích tụ rủi ro.
Ông có khuyến nghị gì để yêu cầu giảm lãi suất sớm chuyển thành lợi ích thực tế cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa? Về phía doanh nghiệp, cần chuẩn bị những gì để nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân hàng?
Để chính sách biến thành lợi ích cụ thể, ngân hàng cần công khai điều kiện hưởng ưu đãi, cách tính lãi và phí, đồng thời rà soát khách hàng hiện hữu đủ điều kiện. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, bảo lãnh tín dụng, kết nối ngân hàng với chuỗi cung ứng và tài trợ dựa trên dòng tiền, hóa đơn, hợp đồng đầu ra có thể mở thêm kênh vốn. Những giải pháp này giúp đánh giá doanh nghiệp toàn diện hơn.
Về phía doanh nghiệp cần hoàn thiện báo cáo tài chính, nghĩa vụ thuế, mục đích vay, dự báo dòng tiền, kế hoạch trả nợ và thông tin tài sản bảo đảm. Cần chọn kỳ hạn phù hợp chu kỳ, đầu tư hiệu quả, kiểm soát dòng tiền và dùng vốn đúng mục đích. Hồ sơ minh bạch giúp nâng khả năng tiếp cận vốn.
Hiệu quả giảm lãi suất phụ thuộc vào phối hợp nhiều chủ thể. Ngân hàng cần tiết giảm chi phí, chia sẻ lợi ích và quản trị rủi ro; doanh nghiệp cần minh bạch, sử dụng vốn hiệu quả; cơ quan điều hành cần giữ ổn định tiền tệ và môi trường kinh doanh thuận lợi. Khi đó, lãi suất thấp hơn có thể hỗ trợ tăng trưởng an toàn, bền vững.
Xin cảm ơn ông!
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/giam-lai-suat-cuoi-nam-mo-rong-du-dia-tu-nhieu-phia-189228.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.