Tăng trưởng cao, không thể chủ quan với thị trường
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu rau quả tháng 9/2026 ước đạt 1,19 tỷ USD, đánh dấu tháng thứ ba liên tiếp vượt một tỷ USD (trước đó, kim ngạch tháng 7 đạt 1,12 tỷ USD và tháng 8 đạt 1,37 tỷ USD). Tính chung chín tháng, xuất khẩu đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước.
Để đạt mốc 10 tỷ USD, ngành rau quả cần xuất khẩu thêm khoảng 2,65 tỷ USD trong quý cuối năm, tương đương bình quân 883 triệu USD mỗi tháng. Kết quả những tháng gần đây tạo cơ sở kỳ vọng, nhưng khả năng hoàn thành còn phụ thuộc mùa vụ, nhu cầu nhập khẩu và khả năng duy trì chất lượng hàng hóa.
![]() |
| Cơ hội xuất khẩu phải đi cùng năng lực đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, thay vì chỉ dựa vào nhu cầu mua hàng. Ảnh minh họa |
Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất, chiếm khoảng 63% kim ngạch xuất khẩu rau quả trong chín tháng. Hoa Kỳ và Hàn Quốc lần lượt chiếm 7% và 3,8%. Theo số liệu tám tháng, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 38,8%, Hoa Kỳ tăng 17,9% và Hàn Quốc tăng 9,7% so với cùng kỳ.
Lợi thế địa lý, nhu cầu tiêu thụ lớn và sự tương đồng về thị hiếu giúp Trung Quốc trở thành đầu ra quan trọng. Tuy nhiên, tỷ trọng quá cao tại một thị trường cũng khiến doanh nghiệp dễ bị ảnh hưởng khi quy định kiểm dịch, yêu cầu đóng gói hoặc tiến độ thông quan thay đổi. Nếu không chuẩn bị tốt, chi phí lưu kho và nguy cơ giảm giá có thể gia tăng.
Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam, việc gia tăng số mã vùng trồng và cơ sở đóng gói được phía Trung Quốc phê duyệt góp phần mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Điều này cho thấy cơ hội xuất khẩu phải đi cùng năng lực đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, thay vì chỉ dựa vào nhu cầu mua hàng.
Đa dạng hóa thị trường vì thế là nhiệm vụ lâu dài. Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, EU và những thị trường mới có thể tạo thêm dư địa cho trái cây Việt Nam, song mỗi nơi có quy định riêng về kiểm dịch, dư lượng, nhãn mác và bảo quản. Doanh nghiệp cần lựa chọn sản phẩm phù hợp thay vì đưa cùng một quy cách hàng hóa tới mọi thị trường.
Sầu riêng tăng trưởng, chất lượng là điều kiện sống còn
Sầu riêng tiếp tục giữ vai trò nổi bật trong cơ cấu xuất khẩu rau quả. Nhu cầu từ Trung Quốc và lợi thế mùa vụ hỗ trợ tiêu thụ, nhưng việc mở rộng diện tích nhanh cũng làm tăng áp lực lên hệ thống thu mua, phân loại và bảo quản. Khi sản lượng lớn tập trung vào thời gian ngắn, chất lượng không đồng đều có thể ảnh hưởng đến giá bán của cả vùng sản xuất.
Diện tích sầu riêng cả nước được thông tin ở mức khoảng 200.000 ha trong năm 2026. Quy mô này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa địa phương, hợp tác xã, nông dân và doanh nghiệp. Phát triển vùng trồng cần dựa trên tín hiệu thị trường, điều kiện thổ nhưỡng và khả năng tiêu thụ, tránh mở rộng tự phát rồi phụ thuộc vào một mùa giá cao.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, từng đánh giá xuất khẩu sầu riêng có khả năng tiếp tục tăng nếu nhịp tiêu thụ được duy trì. Dù vậy, triển vọng phải gắn với việc tuân thủ quy định an toàn thực phẩm, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc. Đây là điều kiện để giữ đơn hàng lâu dài, không chỉ vượt qua một đợt kiểm tra.
Đối với hàng tươi, chất lượng phải được kiểm soát ngay từ vườn. Nhật ký canh tác, sử dụng vật tư đúng quy định, kiểm tra dư lượng và thu hoạch đúng độ chín cần trở thành quy trình thường xuyên. Ở khâu sau thu hoạch, phân loại, làm mát, đóng gói và vận chuyển phải được tổ chức đồng bộ để hạn chế hư hỏng.
Truy xuất nguồn gốc cũng không nên dừng ở việc dán mã lên bao bì. Thông tin cần phản ánh được quá trình sản xuất, thu hoạch và lưu thông, có khả năng đối chiếu khi phát sinh cảnh báo. Khi dữ liệu thiếu chính xác hoặc không được cập nhật, hệ thống truy xuất khó phát huy giá trị dù doanh nghiệp đã đầu tư công nghệ.
Bên cạnh sầu riêng, dừa, chanh leo, thanh long, xoài và bưởi có tiềm năng mở rộng xuất khẩu. Tuy nhiên, phát triển nhiều mặt hàng chỉ hiệu quả khi có kế hoạch mùa vụ, tiêu chuẩn chất lượng và đối tác tiêu thụ rõ ràng. Mở rộng danh mục sản phẩm không thể thay thế yêu cầu xây dựng chuỗi cung ứng ổn định.
Chế biến sâu và thương hiệu tạo dư địa tăng trưởng
Xuất khẩu quả tươi có ưu thế về giá trị cảm quan nhưng chịu nhiều rủi ro do thời gian bảo quản ngắn và biến động mùa vụ. Chế biến sâu giúp kéo dài thời hạn sử dụng, tận dụng nguyên liệu phù hợp và mở rộng kênh phân phối. Sầu riêng đông lạnh, trái cây sấy, nước ép, puree và nguyên liệu thực phẩm là những hướng phát triển đáng chú ý.
Theo ông Lê Anh Dũng, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Rau quả, nông sản Việt Nam, phát triển các sản phẩm sầu riêng đông lạnh, puree, sấy và chế biến sâu có thể giúp giảm áp lực tiêu thụ trong mùa thu hoạch rộ, đồng thời hạn chế rủi ro từ biến động nguồn cung. Hướng đi này cũng có thể áp dụng với dừa, chanh leo, xoài và thanh long, góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch, đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng khả năng tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng.
Tuy nhiên, không phải sản phẩm chế biến nào cũng mang lại giá trị cao. Doanh nghiệp cần xác định rõ phân khúc khách hàng, tiêu chuẩn sản phẩm và chi phí sản xuất trước khi mở rộng công suất. Nếu chỉ tăng sản lượng mà thiếu hệ thống phân phối, hàng chế biến vẫn có thể tồn kho và chịu sức ép giảm giá.
Một điểm nghẽn khác là tổn thất sau thu hoạch. Việc thiếu kho lạnh, cơ sở sơ chế gần vùng nguyên liệu hoặc phương tiện vận chuyển phù hợp có thể khiến chất lượng suy giảm trước khi hàng đến nhà máy. Tăng khả năng bảo quản tại vùng trồng vì thế quan trọng không kém đầu tư dây chuyền chế biến hiện đại.
Bà Ngô Tường Vy, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu, từng chia sẻ cách doanh nghiệp tìm hiểu thị hiếu và hành vi mua sắm tại từng khu vực Trung Quốc để điều chỉnh sản xuất, sơ chế, đóng gói và phát triển sản phẩm. Kinh nghiệm này gợi mở yêu cầu lấy thị trường làm điểm xuất phát cho đổi mới sản phẩm.
Cùng một loại trái cây, người tiêu dùng tại các thị trường có thể khác nhau về sở thích kích cỡ, độ ngọt, hình thức đóng gói và phương thức mua sắm. Nghiên cứu thị hiếu giúp doanh nghiệp lựa chọn phân khúc phù hợp, hạn chế cạnh tranh đơn thuần bằng giá và xây dựng quan hệ ổn định với nhà phân phối.
Để nâng giá trị gia tăng, doanh nghiệp cũng cần đầu tư cho thương hiệu. Sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng đồng nhất và câu chuyện vùng trồng đáng tin cậy sẽ thuận lợi hơn khi tiếp cận hệ thống bán lẻ hiện đại. Bao bì, nhãn hiệu và dịch vụ sau bán hàng phải được xem là một phần của năng lực cạnh tranh.
Vai trò của hợp tác xã và liên kết sản xuất cũng cần được củng cố. Khi nông dân sản xuất theo quy trình thống nhất, doanh nghiệp dễ chủ động chất lượng và lịch giao hàng. Ngược lại, hợp đồng tiêu thụ minh bạch giúp người trồng có cơ sở điều chỉnh mùa vụ, giảm tình trạng thu hoạch ồ ạt khi giá biến động.
Mục tiêu 10 tỷ USD là dấu mốc đáng kỳ vọng, nhưng không nên trở thành thước đo duy nhất. Sự phát triển bền vững còn thể hiện ở tỷ lệ hàng đạt chuẩn, mức tổn thất giảm, giá trị chế biến tăng và khả năng giữ thị trường qua nhiều mùa vụ. Khi chất lượng, chế biến và thương hiệu cùng được nâng lên, rau quả Việt Nam mới có thể chuyển từ lợi thế sản lượng sang sức cạnh tranh dài hạn.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/xuat-khau-rau-qua-huong-toi-moc-10-ty-usd-chat-luong-va-che-bien-quyet-dinh-suc-bat-189244.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.