Đổi mới sáng tạo: Từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường

Khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn đối với hoạt động đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Việc tăng cường liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp được xác định là giải pháp quan trọng nhằm đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy thương mại hóa công nghệ.

Ngày 23/10, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN. Hội nghị do Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chủ trì; Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân đồng chủ trì phiên trao đổi, giải đáp.

Báo cáo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định cho biết, mặc dù nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy nghiên cứu và đổi mới sáng tạo đã được ban hành, song mối liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp vẫn còn những hạn chế, đặc biệt trong việc xác định nhu cầu ứng dụng, huy động nguồn lực và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Một trong những vấn đề đáng chú ý là sự mất cân đối giữa nguồn cung công nghệ và nhu cầu tìm mua trên thị trường. Tính đến ngày 22/8/2026, các sàn giao dịch công nghệ được tổng hợp ghi nhận khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua, tương đương khoảng 83 công nghệ chào bán trên một nhu cầu. Trong 8 tháng đầu năm 2026, các sàn ghi nhận 72 giao dịch thành công, với tổng giá trị 11,233 tỷ đồng. Số liệu phản ánh trong phạm vi các sàn được tổng hợp, chưa bao quát toàn bộ thị trường công nghệ.

Bên cạnh đó, năng lực đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp còn hạn chế. Theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026, chi R&D do doanh nghiệp thực hiện tại Việt Nam tương đương 0,3% GDP, thấp hơn đáng kể so với Singapore (1,3%), Trung Quốc (2,1%) và Hàn Quốc (4,2%). Tỷ lệ nhà nghiên cứu làm việc trong doanh nghiệp tại Việt Nam đạt 27,5% tổng số nhà nghiên cứu, trong khi Hàn Quốc đạt 81,9%.

Đáng chú ý, trong số 991 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, chỉ có 27 doanh nghiệp hình thành từ kết quả nghiên cứu của viện, trường, tương đương khoảng 2,7%. Giai đoạn 2021-2025, doanh nghiệp chủ trì 181 trong tổng số 1.451 nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia được tổng hợp, chiếm 12,5%.

Theo Bộ KH&CN, những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, không ít hoạt động nghiên cứu chưa bắt đầu từ nhu cầu ứng dụng thực tế, trong khi doanh nghiệp tham gia muộn vào quá trình phát triển công nghệ. Điều này khiến yêu cầu về tính năng, giá thành và khả năng tích hợp sản phẩm chưa được xác định ngay từ đầu.

Đổi mới sáng tạo: Từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường
Quang cảnh Hội nghị

Cùng với đó, cơ chế góp vốn, định giá và khai thác kết quả nghiên cứu vẫn còn vướng mắc. Một số viện, trường lo ngại rủi ro khi quyết định thương mại hóa, định giá hoặc góp vốn bằng tài sản hình thành từ nghiên cứu. Hoạt động chuyển giao cũng thiếu đầu mối chuyên nghiệp, trong khi năng lực tiếp nhận công nghệ của một bộ phận doanh nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu.

Đặc biệt, quy định về hợp đồng tương tự trong mua sắm công có thể gây khó khăn cho sản phẩm công nghệ được chế tạo lần đầu. Việc phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả hợp tác vẫn chủ yếu dựa trên số lượng nhiệm vụ, biên bản ghi nhớ, thay vì kết quả ứng dụng và giá trị thực tế mang lại.

Đề cập giải pháp tháo gỡ, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân nhấn mạnh yêu cầu thay đổi phương thức tổ chức nghiên cứu, chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên đề xuất của nhà khoa học sang nghiên cứu xuất phát từ đơn đặt hàng của Nhà nước và doanh nghiệp, gắn với sản phẩm đầu ra cụ thể.

Theo Bộ trưởng, hiệu quả nghiên cứu cần được đo lường bằng sản phẩm và kết quả ứng dụng thực tế, thay vì chỉ dừng ở số lượng nhiệm vụ được triển khai. Đồng thời, các cơ quan quản lý cần chủ động xác định những bài toán công nghệ trong từng ngành, lĩnh vực, tạo điều kiện để doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học cùng tham gia giải quyết.

Bộ trưởng Vũ Hải Quân cũng cho rằng việc thúc đẩy liên kết không nên chỉ tập trung vào các lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm như trí tuệ nhân tạo hay chip bán dẫn, mà cần xuất phát từ yêu cầu cụ thể của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chẳng hạn, trong lĩnh vực thủy sản, cần xác định các bài toán công nghệ xuyên suốt chuỗi giá trị, từ con giống, thức ăn, vaccine phòng bệnh đến chế biến và khai thác phụ phẩm.

Về cơ chế hỗ trợ, Bộ trưởng cho biết các quy định mới đã tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ cao và công nghệ chiến lược. Trong đó, nhiệm vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược do Nhà nước đặt hàng có thể được hỗ trợ 100% kinh phí; chi phí thử nghiệm lần đầu được hỗ trợ 100% đối với công nghệ chiến lược và 70% đối với công nghệ cao, theo các điều kiện quy định.

Tuy nhiên, việc phổ biến, hướng dẫn thực hiện chính sách cần tiếp tục được tăng cường để doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và nhà khoa học có thể tiếp cận, tận dụng hiệu quả các cơ chế hỗ trợ.

Trên cơ sở nhận diện những điểm nghẽn, Bộ KH&CN đề xuất sáu nhóm giải pháp trọng tâm, gồm: đo lường kết quả liên kết bằng hệ thống chỉ số; thực hiện đồng tài trợ dựa trên vốn doanh nghiệp thực góp; gắn phân bổ kinh phí với kết quả hợp tác và chuyển giao; nâng cao năng lực tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp; tạo lập thị trường ban đầu cho sản phẩm mới; đồng thời phát huy vai trò của tổ chức trung gian và cụ thể hóa quyền tự chủ trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.

Bộ KH&CN đề xuất triển khai các nhiệm vụ từ quý IV/2026, trong đó các bộ, ngành và địa phương xây dựng danh mục bài toán công nghệ, thí điểm cơ chế đặt hàng, đồng tài trợ và tháo gỡ khó khăn trong định giá, khai thác, chuyển giao kết quả nghiên cứu. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được kỳ vọng phát huy vai trò đặt hàng, thử nghiệm và trở thành khách hàng đầu tiên của các sản phẩm KH&CN mới.

Định hướng đặt ra là chuyển từ hợp tác theo từng nhiệm vụ riêng lẻ sang mô hình liên kết xuyên suốt, trong đó doanh nghiệp xác định nhu cầu, tham gia đầu tư và tiếp nhận công nghệ; viện nghiên cứu, trường đại học phát triển giải pháp; còn Nhà nước giữ vai trò kiến tạo cơ chế và chia sẻ rủi ro theo quy định. Qua đó, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực dành cho KH&CN và đổi mới sáng tạo.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/doi-moi-sang-tao-tung-buoc-thu-hep-khoang-cach-giua-nghien-cuu-va-thi-truong-189552.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.