Xuất khẩu sang ASEAN: Làm sao tránh rủi ro mất tiền?

ASEAN mở ra cơ hội xuất khẩu nhờ khoảng cách gần, vận tải thuận lợi và các cam kết thương mại. Tuy nhiên, hợp đồng có doanh thu lớn chưa chắc mang lại lợi nhuận nếu doanh nghiệp chậm thu hồi công nợ, phát sinh chi phí logistics hoặc vướng tranh chấp. Quản trị rủi ro vì thế cần gắn với bảo vệ dòng tiền và hiệu quả sử dụng vốn.

Đơn hàng tăng, dòng tiền vẫn có thể căng thẳng

Tại hội thảo “Tư vấn quản lý rủi ro trong xúc tiến thương mại và kinh doanh xuất khẩu với các thị trường ASEAN” do Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương tổ chức ngày 27/10 tại Hà Nội, các chuyên gia nhấn mạnh yêu cầu phòng ngừa rủi ro xuyên suốt hoạt động kinh doanh quốc tế.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư, Cục Xúc tiến thương mại, ASEAN có lợi thế về địa lý, vận tải, phân phối và nhu cầu tiêu dùng tương đồng. Nông sản, thực phẩm chế biến, thủy sản, hàng tiêu dùng, dệt may và vật liệu xây dựng có cơ hội tiếp cận thị trường. Đây cũng là địa bàn để doanh nghiệp nhỏ và vừa học hỏi.

Song, ASEAN không phải thị trường đồng nhất. Singapore nổi bật về tài chính và logistics; Malaysia có yêu cầu riêng về tiêu chuẩn, chứng nhận; Indonesia đòi hỏi tìm hiểu kỹ thủ tục cấp phép, nhập khẩu và phân phối… Cách tiếp cận từng nước cần khác nhau.

Bà Thủy lưu ý sáu nhóm rủi ro: đối tác và gian lận thương mại; thanh toán, tín dụng, tỷ giá; hợp đồng; tiêu chuẩn nhập khẩu và hải quan; logistics, giao nhận; cùng văn hóa kinh doanh, thông tin thị trường và năng lực cạnh tranh. Một sai sót có thể kéo theo nhiều chi phí.

Đặc biệt, theo bà Thủy, thực tế đã có doanh nghiệp xuất khẩu được hàng nhưng gặp khó trong thu tiền, phải tìm đến Cục Xúc tiến thương mại để được tư vấn tháo gỡ. Giá trị hợp đồng khác tiền thực nhận.

Một đơn hàng có thể được ghi nhận doanh thu nhưng chưa mang về tiền mặt. Trong thời gian chờ thanh toán, doanh nghiệp vẫn phải mua nguyên liệu, trả lương, thanh toán vận chuyển và trả nhà cung cấp. Nếu dùng vốn vay, thời gian thu hồi công nợ kéo dài làm tăng lãi vay, thu hẹp lợi nhuận.

Vì vậy, khi đánh giá một đơn hàng ASEAN, doanh nghiệp cần tính cả số ngày vốn bị chiếm dụng, thời hạn thanh toán và khả năng chịu đựng nếu đối tác trả chậm. Thiếu vốn lưu động có thể khiến doanh nghiệp mất đơn hàng mới.

Thẩm định đối tác trước khi ứng vốn

Từ thực tiễn hỗ trợ doanh nghiệp, ông Phùng Văn Thành, Tham tán thương mại tại Malaysia, nêu trường hợp năm 2024 một doanh nghiệp Việt Nam đặt cọc khoảng 150.000 USD để nhập khẩu quặng đồng từ Philippines nhưng không nhận được hàng. Theo thông tin ông Thành chia sẻ, tại thời điểm giao dịch, Philippines không còn khả năng xuất khẩu loại quặng này. Việc tham khảo cơ quan thương vụ từ đầu có thể giúp nhận diện nguy cơ.

Đây là giao dịch nhập khẩu, không phải xuất khẩu. Tuy nhiên, bài học chung là cần kiểm tra năng lực đối tác, tư cách pháp lý và thông tin thị trường trước khi chuyển tiền hoặc giao hàng. Ông Thành còn đề cập trường hợp đối tác đăng ký địa chỉ trên hòn đảo xa tại Philippines, gây khó khăn khi xác minh dấu hiệu lừa đảo.

Tại Indonesia, ông Phạm Thế Cường, Tham tán Thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam, cảnh báo những sai lầm trong xây dựng chiến lược thị trường, xác định vai trò đối tác và bảo vệ thương hiệu, giấy phép. Nếu quyền lợi không được làm rõ từ đầu, doanh nghiệp có thể mất quyền kiểm soát hoặc phải chi thêm tiền để khắc phục.

Đối với nhà xuất khẩu, kiểm tra đối tác không nên dừng ở giấy đăng ký kinh doanh. Cần xác minh người ký hợp đồng, lịch sử giao dịch, năng lực thanh toán và bên thực sự nhận hàng. Với khách hàng mới, có thể cân nhắc đơn hàng thử nghiệm, hạn mức tín dụng thương mại thấp và điều kiện thanh toán chặt chẽ trước khi mở rộng.

Đó là cách bảo vệ vốn. Khi giao hàng theo phương thức trả chậm, doanh nghiệp thực chất đang cấp một khoản tín dụng thương mại cho người mua. Nếu không định giá rủi ro công nợ trong giá bán và hạn mức giao dịch, lợi nhuận dự kiến có thể không bù nổi tổn thất khi thanh toán bị đình trệ.

Kiểm soát chứng từ, giữ hiệu quả tài chính

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà, Trường Đại học Ngoại thương, khuyến nghị doanh nghiệp tìm hiểu quy định cụ thể tại thị trường nhập khẩu, từ tiêu chuẩn sản phẩm, ghi nhãn, đăng ký lưu hành đến điều kiện phân phối. Ông cũng lưu ý doanh nghiệp tìm kiếm hỗ trợ từ cơ quan quản lý, thương vụ, tổ chức tư vấn pháp lý khi soạn thảo, thực hiện hợp đồng và xử lý tranh chấp.

Còn theo ông Hoàng Đức Minh, Phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), khi hàng hóa có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều hiệp định thương mại, doanh nghiệp cần xác định đúng quy tắc xuất xứ và mẫu chứng từ tương ứng, bảo đảm thông tin trên C/O thống nhất với hóa đơn, lô hàng và hồ sơ liên quan. Những sai sót trong khai báo hoặc chứng minh xuất xứ có thể gây vướng mắc khi thông quan, xác minh và ảnh hưởng đến khả năng hưởng ưu đãi thuế quan.

Ưu đãi thuế quan theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, nhưng việc hưởng ưu đãi phụ thuộc vào khả năng đáp ứng các điều kiện về xuất xứ hàng hóa và chứng từ liên quan. Những sai sót trong hồ sơ có thể khiến doanh nghiệp phải giải trình, bổ sung chứng từ hoặc chờ xác minh xuất xứ, ảnh hưởng đến thời gian xử lý thủ tục và việc áp dụng thuế suất ưu đãi. Trong một số trường hợp, chi phí phát sinh hoặc nghĩa vụ thuế tăng thêm có thể làm giảm biên lợi nhuận, thay đổi hiệu quả tài chính đã dự tính khi chào giá và ký kết hợp đồng xuất khẩu.

Doanh nghiệp cần kết nối bộ phận kinh doanh, xuất nhập khẩu, kế toán và pháp chế trong quy trình kiểm soát. Trước khi ký hợp đồng phải xác định điều kiện giao hàng, bảo hiểm, luật áp dụng, cơ chế giải quyết tranh chấp và thời điểm chuyển giao rủi ro. Trước khi xuất hàng phải rà soát chứng từ, thanh toán và công nợ.

Quan trọng hơn, cần theo dõi đồng thời biên lợi nhuận và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Một hợp đồng có giá bán cao nhưng thanh toán kéo dài, chi phí tài trợ lớn có thể kém hiệu quả hơn hợp đồng giá thấp hơn nhưng thu tiền nhanh và ít phát sinh rủi ro. Khả năng thu tiền đúng hạn và kiểm soát chi phí quyết định sức bền xuất khẩu của doanh nghiệp.

Theo khuyến nghị của bà Nguyễn Thị Thu Thủy, doanh nghiệp cần quản trị rủi ro từ nghiên cứu thị trường, tìm đối tác, đàm phán đến sản xuất, vận chuyển, thanh toán và chuẩn bị phương án dự phòng. Mở rộng thị phần ASEAN chỉ bền vững khi đơn hàng không làm suy yếu dòng tiền và nguồn lực tăng trưởng.

Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/xuat-khau-sang-asean-lam-sao-tranh-rui-ro-mat-tien-189808.htmlIn bài viết

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.