![]() |
| Các doanh nghiệp nỗ lực tăng tốc thời điểm cuối năm |
Gia nhập thị trường chưa đồng nghĩa với phục hồi bền vững
Theo số liệu từ Cục Thống kê, riêng tháng 10/2026, cả nước có gần 12,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và gần 11,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, tính chung 10 tháng, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt hơn 243,6 nghìn, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, gần 81,4 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 12,5%.
Diễn biến này cho thấy, khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp không chỉ nằm ở quyết định gia nhập thị trường mà còn ở khả năng duy trì hoạt động sau khi thành lập hoặc phục hồi. Một doanh nghiệp trở lại thị trường phải đồng thời giải quyết nhiều bài toán: khôi phục dòng tiền, tìm kiếm đơn hàng, tái thiết lập chuỗi cung ứng, duy trì lao động và củng cố quan hệ với đối tác. Nếu những điều kiện này chưa được đáp ứng, việc quay trở lại chưa chắc đồng nghĩa với khả năng phục hồi bền vững.
Sức ép còn đến từ sự thận trọng của người tiêu dùng. Ông Nguyễn Trọng Hùng, Giám đốc
Công ty TNHH Hùng Nga chia sẻ, doanh nghiệp nhập khẩu và phân phối sản phẩm rượu vang thuộc phân khúc cao cấp nên hoạt động kinh doanh chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tình hình kinh tế chung. Khi người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, nhu cầu sử dụng sản phẩm làm quà tặng, tiếp khách cũng suy giảm. Đáng chú ý, những tháng cuối năm vốn là mùa kinh doanh quan trọng của các ngành hàng cao cấp, từ rượu vang, thực phẩm nhập khẩu đến quà biếu doanh nghiệp. Tuy nhiên, sức mua thận trọng có thể khiến lợi thế mùa vụ không chuyển hóa thành doanh thu như kỳ vọng. Doanh nghiệp không chỉ đối diện nguy cơ giảm đơn hàng mà còn phải tính toán lại kế hoạch nhập khẩu, phân phối, tồn kho và dòng tiền. Với những mặt hàng có giá trị cao, tốc độ luân chuyển chậm có thể làm gia tăng chi phí vốn và áp lực tài chính.
Thực tế này cho thấy khó khăn không còn bó hẹp ở một ngành hàng hay nhóm doanh nghiệp cụ thể. Khi sức mua chưa phục hồi đồng đều, chi phí đầu vào còn tạo áp lực và thị trường liên tục thay đổi, khả năng chống chịu của doanh nghiệp trở thành vấn đề đáng quan tâm hơn bao giờ hết.
Nhận diện 4 'điểm nghẽn' vi mô cản trở sức bật doanh nghiệp
Phân tích về các rào cản nội tại, ông Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới chỉ rõ, có 4 "điểm nghẽn" vi mô cốt lõi đang cản trở sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp bao gồm: thể chế, nguồn lực, thị trường và đổi mới sáng tạo.
Trong đó, thể chế liên quan đến chi phí tuân thủ, tính ổn định và hiệu quả thực thi chính sách. Đây là điểm nghẽn có tác động trực tiếp đến chi phí kinh doanh và khả năng hoạch định đầu tư. Một chính sách dù được thiết kế với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp nhưng nếu quy trình thực hiện phức tạp, cách hiểu và áp dụng thiếu nhất quán, thời gian xử lý kéo dài thì lợi ích mang lại có thể bị triệt tiêu bởi chi phí tuân thủ. Doanh nghiệp cần một môi trường kinh doanh có tính dự báo, nơi các quy định được thực thi minh bạch và ổn định để có thể chủ động xây dựng kế hoạch dài hạn.
Điểm nghẽn thứ hai là nguồn lực, bao gồm vốn, đất đai, nhân lực, công nghệ và dữ liệu. Đây đều là những yếu tố đầu vào thiết yếu nhưng khả năng tiếp cận giữa các nhóm doanh nghiệp còn khác biệt. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế về tài sản bảo đảm, năng lực quản trị tài chính và thông tin tín dụng có thể khiến việc tiếp cận vốn trở nên khó khăn. Trong khi đó, thiếu nhân lực chất lượng cao và công nghệ phù hợp khiến doanh nghiệp khó nâng năng suất, giảm chi phí và mở rộng quy mô.
Ở điểm nghẽn thị trường, câu chuyện không chỉ là tìm kiếm đầu ra mà còn là khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, xây dựng thương hiệu và tham gia các mối liên kết. Ngay cả khi có năng lực sản xuất, doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó nếu thiếu thông tin thị trường, không đáp ứng được yêu cầu chất lượng, truy xuất nguồn gốc hoặc thiếu khả năng kết nối với các nhà phân phối và đối tác lớn. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, phụ thuộc vào một vài khách hàng hoặc kênh tiêu thụ cũng khiến doanh nghiệp dễ tổn thương trước biến động nhu cầu.
Cuối cùng là đổi mới sáng tạo, gắn với nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây không còn là lựa chọn mang tính hình thức mà đang trở thành điều kiện để duy trì năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp vẫn thiếu vốn, nhân lực và năng lực quản trị để triển khai đồng bộ. Nếu chậm đổi mới công nghệ, doanh nghiệp sẽ khó cải thiện năng suất, kiểm soát chất lượng và đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.
Đáng lưu ý, bốn điểm nghẽn này không tồn tại độc lập mà có quan hệ tác động qua lại. Thể chế thiếu thông thoáng làm tăng chi phí tiếp cận nguồn lực; thiếu vốn và nhân lực khiến doanh nghiệp khó đầu tư đổi mới; năng lực đổi mới hạn chế lại làm giảm khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và mở rộng thị trường. Bởi vậy, nếu chỉ tháo gỡ một khâu riêng lẻ, hiệu quả hỗ trợ sẽ khó tạo ra chuyển biến thực chất.
![]() |
| Điều doanh nghiệp cần là một môi trường kinh doanh ổn định |
Doanh nghiệp cần là một môi trường kinh doanh minh bạch và ổn định
Theo ông Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Việt Nam, để khơi thông sức bật doanh nghiệp, trước hết cần tiếp tục cải cách thể chế theo hướng giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa quy trình và nâng cao tính nhất quán trong thực thi chính sách. Điều doanh nghiệp cần không chỉ là thêm những chính sách ưu đãi, mà là một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo. Cải cách cần đi vào thực chất, lấy thời gian xử lý thủ tục, chi phí thực hiện và mức độ thuận lợi của doanh nghiệp làm thước đo.
Với bài toán nguồn lực, cần đa dạng hóa các kênh tiếp cận vốn, phát triển các cơ chế bảo lãnh tín dụng phù hợp, đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất và nguồn nhân lực. Các chương trình hỗ trợ cần phân loại theo quy mô, ngành nghề và năng lực của từng nhóm doanh nghiệp, tránh cách tiếp cận dàn trải. Đặc biệt, cần tăng cường đào tạo nhân lực quản trị, kỹ thuật và kỹ năng số để doanh nghiệp có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực được hỗ trợ.
Đối với thị trường, cần đẩy mạnh kết nối cung cầu, cung cấp thông tin thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước cũng như quốc tế. Việc phát triển hệ thống phân phối đa kênh, thương mại điện tử, xây dựng thương hiệu và nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn sẽ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào một số thị trường hoặc khách hàng nhất định. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, liên kết với các doanh nghiệp đầu chuỗi, hợp tác xã và hệ thống phân phối lớn có thể mở ra cơ hội tiếp cận đơn hàng ổn định hơn.
Trong khi đó, hỗ trợ đổi mới sáng tạo cần gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Thay vì chỉ khuyến khích đầu tư công nghệ theo phong trào, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các giải pháp số hóa quản trị, tự động hóa sản xuất, tiết kiệm năng lượng và cải tiến sản phẩm. Các chương trình tư vấn, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ R&D cần được thiết kế phù hợp với khả năng hấp thụ của từng nhóm doanh nghiệp, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Các chuyên gia nhận định, chính sách cần chuyển từ tư duy hỗ trợ doanh nghiệp gia nhập thị trường sang tạo điều kiện để doanh nghiệp tồn tại, phục hồi và phát triển. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới là một chỉ báo về sức hấp dẫn của môi trường kinh doanh, nhưng khả năng duy trì hoạt động, mở rộng đầu tư, tạo việc làm và nâng cao năng suất mới phản ánh rõ hơn sức khỏe của nền kinh tế.
Một nền kinh tế không thể có sức bật bền vững nếu doanh nghiệp liên tục phải dành nguồn lực để chống đỡ những rào cản về thể chế, vốn, thị trường và công nghệ. Tháo gỡ đồng thời bốn điểm nghẽn vi mô vì thế không chỉ là yêu cầu trước mắt để hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó cuối năm 2026, mà còn là điều kiện để hình thành một cộng đồng doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh và sức chống chịu tốt hơn trong những năm tiếp theo.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/khong-de-doanh-nghiep-viet-mac-ket-trong-vong-xoay-diem-nghen-190205.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.