| Tổ chức tín dụng có tỷ lệ nợ xấu dưới 3% mới được tham gia góp vốn, mua cổ phần Phân biệt nợ quá hạn và nợ xấu |
![]() |
| TS. Châu Đình Linh (Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh) |
Nghị định số 04/2025/NĐ-CP sẽ tác động như thế nào đến ngân hàng trong xử lý nợ xấu, thưa ông?
Theo tôi, Nghị định số 304/2025/NĐ-CP thể hiện cách tiếp cận theo hướng cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan, bao gồm người cho vay và người đi vay. Điểm đáng chú ý là Nghị định làm rõ hơn điều kiện để thu giữ tài sản bảo đảm một cách hợp pháp, nhất là với các trường hợp tài sản mang tính đặc thù như chỗ ở duy nhất hoặc công cụ lao động chủ yếu của người đi vay.
Trong các trường hợp đó, khi ngân hàng thực hiện thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm đồng thời phải hỗ trợ sinh kế cho người đi vay sẽ vừa bảo đảm tính nhân văn, vừa giúp định hình rõ ràng hơn ranh giới quyền và nghĩa vụ giữa các bên, thay vì để hoạt động thu giữ gặp vướng mắc hoặc tranh chấp kéo dài như trước đây.
Từ góc độ ngân hàng, Nghị định số 304/2025/NĐ-CP tạo thêm cơ sở để xử lý nợ xấu trong khuôn khổ rõ ràng hơn, qua đó có thể tăng tỷ lệ thu hồi “tiền thật”, thay vì để nợ xấu kéo dài trên sổ sách. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng nghĩa vụ hỗ trợ sinh kế sẽ làm tăng chi phí xử lý nợ, và điều này chắc chắn tác động đến lợi nhuận ngân hàng. Khi chi phí tăng, lợi nhuận giảm, thì ROE cũng bị ảnh hưởng, và về sau có thể tác động đến cả câu chuyện định giá cổ phiếu ngân hàng.
Nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh rao bán nợ xấu. Theo ông, đây có phải dấu hiệu cho thấy việc xử lý và bán nợ xấu sẽ thuận lợi hơn?
Đúng vậy, quy định mới tại Nghị định số 304/2025/NĐ-CP sẽ tạo động lực để các ngân hàng đẩy nhanh xử lý tài sản đảm bảo, thu hồi nợ xấu. Nhất là những tài sản bảo đảm tốt, pháp lý rõ ràng được các ngân hàng ưu tiên xử lý trước.
Tuy nhiên, theo tôi, yếu tố quan trọng thúc đẩy các ngân hàng tăng cường xử lý tài sản đảm bảo vẫn là áp lực hoàn thành chỉ tiêu và KPI khi kết thúc năm tài chính 2025. Nếu xử lý nợ xấu tốt, ngân hàng có thể hoàn nhập dự phòng, cải thiện lợi nhuận và giảm tỷ lệ nợ xấu trên báo cáo. Nhất là để chuẩn bị cho câu chuyện tăng trưởng tín dụng năm 2026. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống được đề cập ở mức khoảng 15%, từng ngân hàng vẫn phải đáp ứng các điều kiện, chỉ số và mức độ phù hợp để được phân bổ hạn mức cụ thể.
Với các chính sách mới, theo ông bức tranh xử lý nợ xấu năm 2026 sẽ ra sao?
Theo tôi, bức tranh xử lý nợ xấu sẽ phân hóa rõ giữa các nhóm ngân hàng. Với các ngân hàng lớn, quá trình này nhìn chung thuận lợi hơn nhờ hệ thống quản trị rủi ro tương đối hoàn chỉnh, nhiều ngân hàng đã tiệm cận các chuẩn mực cao như Basel III. Kinh nghiệm và nguồn lực giúp họ xử lý bài bản hơn, với trọng tâm thu hồi tập trung vào các khoản nợ có tài sản bảo đảm rõ ràng về pháp lý hoặc các khoản cho vay đối với doanh nghiệp còn khả năng phục hồi dòng tiền.
Ngược lại, các ngân hàng nhỏ đối mặt nhiều thách thức hơn. Chất lượng tài sản đảm bảo nhìn chung thấp, cộng với năng lực tài chính của khách hàng yếu, trong khi các khoản nợ cũ chưa được xử lý dứt điểm thì áp lực mới tiếp tục dồn lên ngân hàng. Nếu hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng chưa được chuẩn hóa, nguồn lực và kinh nghiệm xử lý còn hạn chế thì tốc độ xử lý thường chậm hơn đáng kể. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra là ngân hàng phải phân loại nợ sâu và thực chất hơn. Không chỉ dừng ở các nhóm nợ theo chuẩn kế toán, mà cần phân loại theo khả năng xử lý: thu hồi nhanh, cần tái cơ cấu, phù hợp để bán, hoặc nên chuyển sang VAMC. Nói cách khác, cần phân loại để xác định đúng thứ tự ưu tiên và phương án xử lý cho từng nhóm nợ.
Chính vì vậy, vai trò của VAMC sẽ đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các ngân hàng nhỏ. Thông qua hỗ trợ xử lý và chuyển giao kinh nghiệm, VAMC giúp các ngân hàng này nâng cao năng lực xử lý nợ theo hướng bài bản hơn
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/xu-ly-no-xau-se-co-su-phan-hoa-176710.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2025 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.