| Chất lượng nguồn nhân lực cần được đặt lên hàng đầu Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tạo giá trị bền vững Nguồn nhân lực xanh - nền tảng của chuyển dịch mô hình tăng trưởng |
Giới hạn của lợi thế lao động giá rẻ
GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ phân tích, Nhật Bản đã trải qua giai đoạn tăng trưởng kinh tế vượt bậc kéo dài suốt 30 năm, từ 1965 - 1995 với tốc độ tăng GDP danh nghĩa bình quân đạt tới 14,68%/năm. Thế nhưng, sau năm 1995, tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản bắt đầu chững lại do lực lượng lao động suy giảm, năng suất lao động đi xuống.
Tương tự, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng đang đối mặt với tình trạng suy giảm tỷ lệ sinh sau thập niên 1990, đặt ra những thách thức lớn đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững trong dài hạn.
Một số quốc gia vì thế đã sử dụng lao động nhập cư để bù đắp thiếu hụt nhân lực, thậm chí triển khai chính sách nhập cư quy mô lớn nhằm gia tăng lực lượng lao động, như tại Singapore, Hoa Kỳ, Canada hay Australia... Tuy nhiên, theo dự báo, sau năm 2053, lực lượng lao động toàn cầu sẽ bắt đầu suy giảm và đến cuối thế kỷ 21, thế giới có thể đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động trên diện rộng. Điều đó đồng nghĩa với việc các quốc gia dựa vào lao động nhập cư sẽ ngày càng khó duy trì động lực tăng trưởng, GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân nhận định.
Tại Việt Nam, lợi thế lao động dồi dào, chi phí thấp từng giúp Việt Nam thu hút dòng vốn đầu tư và duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Thế nhưng, khi nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới, lợi thế này dần bộc lộ giới hạn.
Việc thiếu lực lượng lao động có những kỹ năng cần thiết đang trở thành điểm nghẽn cho tăng trưởng. Tại nhiều khu công nghiệp cho thấy không ít doanh nghiệp, nhất là khối có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), gặp khó khăn khi tuyển dụng lao động có tay nghề cao, đặc biệt là ở các vị trí kỹ thuật, quản lý sản xuất, vận hành dây chuyền hiện đại. Không ít doanh nghiệp phải tự đào tạo nhân sự lại từ đầu hoặc chấp nhận giảm quy mô sản xuất do thiếu nhân lực phù hợp. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà còn làm suy giảm khả năng hấp thụ các dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Khi nhà đầu tư cần lực lượng lao động có kỹ năng nhưng thị trường không đáp ứng được, cơ hội có thể chuyển sang địa phương hoặc quốc gia khác. Nói cách khác, chất lượng nguồn nhân lực trở thành “nút thắt” trực tiếp của tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Hiện nay, tỷ lệ lao động tham gia vào nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam mới đạt khoảng 1,5 người/1.000 lao động, trong khi GDP bình quân đầu người ở mức khoảng 4.500 USD - vẫn còn khá thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực. Trong khi đó, tại Thái Lan, hai chỉ số này lần lượt là 3,4 và 7.500 USD; Trung Quốc là 4,3 và 13.500 USD; còn Hàn Quốc đạt 17,9 và 35.000 USD.
![]() |
| Quốc gia nào có tỷ lệ lao động tham gia nghiên cứu và phát triển càng cao thì GDP bình quân đầu người cũng có xu hướng tăng tương ứng - Ảnh minh hoạ |
Đẩy mạnh giải pháp đồng bộ từ nhiều phía
Để hoàn thiện mô hình phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong giai đoạn tới, ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TP. Hồ Chí Minh cho biết, bài toán nguồn nhân lực không thể giải quyết bởi một phía. Đây là trách nhiệm chung của nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và chính người lao động. Trong đó, nhà nước đóng vai trò kiến tạo - xây dựng khung chính sách, tạo môi trường thuận lợi và điều phối các nguồn lực.
Hiện nhà nước đang thúc đẩy các chương trình đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho người lao động, nhất là trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng. Mục tiêu là xây dựng thị trường lao động hiện đại, linh hoạt, nơi người lao động có thể học tập suốt đời và thích ứng với những thay đổi. Để chính sách nhanh chóng đi vào cuộc sống, cần có cơ chế khuyến khích đủ mạnh. Doanh nghiệp cần được hỗ trợ khi đầu tư vào đào tạo nhân sự; người lao động cần được tiếp cận các chương trình học tập với chi phí hợp lý; cơ sở đào tạo cần được trao quyền tự chủ đi kèm trách nhiệm giải trình. Đồng thời, việc xây dựng cơ sở dữ liệu lao động thống nhất, cập nhật và kết nối liên thông là yêu cầu cấp thiết.
Đối với các cơ sở giáo dục - “cái nôi” của nguồn lao động chất lượng cao, PGS.TS. Nguyễn Thu Thủy, Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học tăng cường hợp tác với các trường đại học uy tín và các doanh nghiệp lớn ở nước ngoài; khuyến khích phát triển các mô hình giáo dục số và giáo dục xuyên biên giới, mở rộng hợp tác song phương và đa phương, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.
Theo bà Thủy, đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên cần được đào tạo, bồi dưỡng định kỳ để nâng cao năng lực hội nhập quốc tế. Đây là tiền đề để tạo một thế hệ lao động mới có trình độ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn phục vụ các mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Dưới góc độ vĩ mô, GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân cho rằng, Việt Nam cần gia tăng tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, bởi quốc gia nào có tỷ lệ lao động tham gia nghiên cứu và phát triển càng cao thì GDP bình quân đầu người cũng có xu hướng tăng tương ứng. Do đó, cần xây dựng và triển khai Đề án phát triển nguồn nhân lực R&D ngay trong năm 2026. Đồng thời, xây dựng Đề án tăng tổng chi xã hội cho hoạt động nghiên cứu và phát triển phù hợp với lộ trình gia tăng mật độ lao động nghiên cứu và phát triển trong năm 2026 và triển khai từ năm 2027. Trong đó, cần đặc biệt chú trọng nâng tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển từ khu vực doanh nghiệp nhằm tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Đường dẫn bài viết: https://thoibaonganhang.vn/nhan-luc-yeu-to-quyet-dinh-suc-bat-kinh-te-trong-dai-han-184173.htmlIn bài viết
Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản. Copyright © 2026 https://thoibaonganhang.vn/ All right reserved.